JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếThiếu vắng các cuộc chiến thương mại chống lại chủ nghĩa bảo hộ số của Trung Quốc

Thiếu vắng các cuộc chiến thương mại chống lại chủ nghĩa bảo hộ số của Trung Quốc

nhan dan te

Đầu mùa hè năm nay, chính quyền của Trump đã đặt những bước đi cụ thể đầu tiên trong tiến trình mà có lẽ sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh thương mại toàn diện với Trung Quốc. Sản phẩm bị Mỹ đánh thuế nhập khẩu là gì? Đó là màng nhôm. Chính quyền Tổng thống Obama trước đây cũng đã có hành đồng chống lại sự trợ cấp của chính phủ Trung Quốc cho ngành sản xuất linh kiện cũng như phản đối việc Trung Quốc cấm xuất khẩu đất hiếm (loại nguyên liệu quan trọng cho ngành kỹ thuật). Giống như người tiền nhiệm, Tổng Thống Donald Trump cũng mới chỉ đương đầu với Trung Quốc trên trận tuyến hàng hóa hữu hình.

Rào cản kỹ thuật số của Trung Quốc

Thế nhưng, rào cản thương mại chính mà Trung Quốc dựng lên với Mỹ lại không liên quan đến ngành sản xuất, hay nguyên liệu thô. Cái mà Trung Quốc nhắm đến chính là các Tập đoàn như Google, Facebook, Mircosoft và hàng loạt các công ty công nghệ khác đang tăng trưởng nhanh và có giá trị lên đến hàng tỷ USD. Rất nhiều công ty dạng này ở Mỹ đã phải đối mặt với các rào cản gia nhập thị trường của Trung Quốc trong suốt nhiều năm qua, do việc Trung Quốc ngăn chặn hoặc kiểm duyệt nội dung và công cụ số, làm tiêu tốn của các công ty nay hàng tỷ USD về doanh thu.

Ông Nigel Cory, nhà phân tích chính sách thương mại ở Viện Sáng tạo và Công nghệ thông tin, cho biết “Việc Trung Quốc sử dụng rộng rải các rào cản thương mại số đã ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất và bán hàng của các công ty công nghệ toàn cầu. Các công ty buộc phải lựa chọn giữa việc thích nghi với các điều kiện ngặt nghèo và tốn kém của Trung Quốc, hoặc là từ bỏ thị trường này”.

Không nổi lên đơn lẻ giống như vụ màng nhôm, các tranh chấp thương mại liên quan đến việc Trung Quốc ngăn chặn các trang mạng, ứng dụng hay nền tảng mạng đã xảy ra không phải chỉ một lần. Sự bảo hộ kĩ thuật số này đã dẫn đến hình thành các siêu cường về công nghệ của chính Trung Quốc như Tencent, Alibaba và Baidu. Các công ty này cũng đang cạnh tranh với Mỹ trên phương diện toàn cầu. Ông Trump vẫn chưa thể hiện dấu hiệu muốn đụng đến vấn đề thương mại số với Trung Quốc. Các công ty công nghệ của Mỹ như Apple, Facebook, và Amazon, cũng chọn lựa hoặc là im lặng, hoặc là tuân theo các quy định của nước này.

Các nhóm hoạt động vì tự do ngôn luận và các công ty công nghệ đang đặt ra câu hỏi là: Khi nền kinh tế số của Trung Quốc đã mạnh lên đáng kể, liệu mọi việc có thay đổi. Mục tiêu mà các nhóm hoạt động và các công ty công nghệ muốn hướng tới là: Trung Quốc cho phép thương mại số và dòng chảy thông tin được tự do lưu chuyển ra vào nước này, giống như việc Mỹ cho phép hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc (như bóng đèn, giày dép) được tự do xuất hiện trong các cửa hàng trên khắp nước Mỹ. Mặc khác, người ta lo sợ rằng mô hình internet của Trung Quốc – tức là mô hình Chính phủ kiểm soát thông tin và quyền truy cập – có thể được nhân rộng ở các nước khác vì mục đích bảo hộ hay kiểm duyệt. Và thứ chịu thiệt hại nhiều nhất chính không gì khác chính là tương lai của internet toàn cầu.

Không lâu trước đó, có nhiều người cũng đã lên tiếng rằng, việc lan rộng của internet đến quốc gia độc tài như Trung Quốc sẽ không làm cho dân chủ được cải thiện gì thêm. Các quốc gia như Bắc Triều Tiên hay Cuba thậm chí còn hạn chế gắt gao quyền truy cập mạng của công dân. Tuy nhiên Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đang trong giai đoạn mở cửa thị trường, và tham vọng trở thành trung tâm sản xuất các thiết bị số, giúp internet tiếp cận toàn cầu. Vì vậy, chặn hoàn toàn mạng toàn cầu sẽ không phải là một lựa chọn mà Trung Quốc có thể thực hiện.

“Vạn lý trường thành trên mạng”

Trung Quốc liền nghĩ ra một giải pháp gọi là “Dự án Tấm chắn vàng”, phát động vào năm 2000 bởi Bộ trưởng Bộ Công An Trung Quốc. Ngày nay, dự án này được biết đến rộng rãi, vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc, và được gọi là “Vạn lý Trường thành trên mạng”. Dự án đã giúp Trung Quốc vẹn cả đôi đường: vừa tranh thủ được sự sáng tạo trong nước và các khoản đầu tư quốc tế để biến Trung Quốc thành trung tâm sản xuất công nghệ, lại tránh được các tác dụng phụ từ việc nới lỏng quá mức trong mảng thông tin, vốn gần như được độc quyền bởi Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Ban đầu, dự án chỉ chặn một vài trang mạng mà Chính phủ Trung Quốc cho là nhạy cảm, ví dụ như các trang liên quan đến sự kiện Trung Quốc chiếm Tây Tạng hay vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn. Nhưng dần dà, dự án đã biến thành một bộ lọc lớn đối với các trang mạng của cả Trung Quốc lẫn quốc tế, các ứng dụng, các phương tiện truyền thông tin tức, và cả các trang phi chính phủ. “Vạn lí trường thành trên mạng” ngày càng phát triển phức tạp hơn và đã có bước đi lớn trong năm 2009 khi chặn hai mạng xã hội đang phát triển mạnh lúc bấy giờ là Facebook và Twitter, cùng với trang Youtube.

Ông Charlie Smith, đồng sáng lập trang GreatFire.org, một trang mạng phi lợi nhuận chuyên cung cấp các công cụ phân tích và công cụ đánh lừa hệ thống Tường lửa của Trung Quốc, cho biết “Twitter và Facebook cùng nhiều ứng dụng truyền thông xã hội khác bị chặn đơn giản vì, trong mắt chính quyền Trung Quốc, các trang này không thể hoạt động không có kiểm duyệt tại Trung Quốc. Đó là những gì Trung Quốc phải làm để bảo vệ sức mạnh của Đảng, giúp các công ty trong nước gia tăng thêm lợi ích, nhưng đó không phải là nguyên nhân chính”.

Facebook và Twitter bị chặn vào tháng 6 năm 2009, vài ngày trước kỷ niệm 20 năm của cuộc đàn áp tại Thiên An Môn, và cùng với cuộc bạo loạn đẫm máu tại Tân Cương, Trung Quốc.

Kể từ đó, danh sách các trang mạng và ứng dụng bị chặn, cũng như các hạn chế đối với các công ty mạng, chỉ có tăng thêm. Ngày nay, phần lớn người dùng mạng của Trung Quốc không những bị cấm tìm kiếm về các chủ đề nhạy cảm, mà còn bị chặn việc chia sẻ dữ liệu qua Google Drive, bị chặn công cụ trò chuyện (chat) với đồng nghiệp ở nước ngoài thông qua ứng dụng Slack cũng như đăng bất kỳ nội dung gì lên Facebook hay Twitter, cho dù nội dung đó có nhạy cảm hay không.

Nhưng theo Matthew Schruers, phó chủ tịch phụ trách chính sách và luật pháp của Hiệp hội Công nghệ Viễn thông và Vi tính, Hiệp hội bao gồm các thành viên như Google, Facebook và Amazon, thật khó mà lượng hóa hết mức độ ảnh hưởng của các công ty Mỹ do các rào cản thương mại của Trung Quốc đem lại.

Ông Schruers nói “Việc chỉ ra nước nào đang hạn chế nhập khẩu chuối tương đối dễ hơn là việc tính toán phạm vi của thị trường chuối. Trong thương mại kỹ thuật số cũng vậy, việc đo lường thiệt hại không hề đơn giản. Đối với một vài dịch vụ số, họ không cấm hoàn toàn, nhưng họ lại điều tiết (chẳng khác nào bóp nghẹt), chất lượng dịch vụ theo đó mà giảm sút, và từ từ, các dịch vụ này cũng sẽ bị đào thải theo thời gian”.

Thiệt hại là có thực. Trong năm 2010, Google kiểm soát đến 40% thị trường tìm kiếm của Trung Quốc. Nhưng từ lúc Google rời khỏi Trung Quốc (rồi sau đó là bị chặn), việc tìm kiếm thông tin ở Trung Quốc phải quay lại với các công ty trong nước là Baidu, mà giờ đây đã chiếm gần hết 80% thị phần.

Lỗ hỏng pháp lý trong vấn đề kỷ thuật số

Từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001 đến nay, Mỹ đã vài lần kiện Trung Quốc về các tranh chấp thương mại và trong các vụ kiện này, Mỹ đều giành phần thắng. Nhưng các tranh chấp đó toàn bộ đều tập trung vào các mặt hàng hữu hình, ví dụ như vụ việc hồi tháng 12 năm 2016 liên quan đến thuế đánh trên sản phẩm lúa mì, gạo và ngô. Từ trước đến nay, Mỹ chưa từng kiện Trung Quốc về thương mại số.

Ông Cory nói “Không may là, Trung Quốc lại lợi dụng khoản trống trong quy định liên quan đến thương mại số để thiết lập các rào cản trong vấn đề này”.

Đây là điểm hạn chế của hầu hết các hiệp định thương mại hiện nay, vì phần lớn các hiệp định được ký kết từ trước kỷ nguyên của internet. Ví dụ như, Hiệp định WTO có hiệu lực từ năm 1995, và Hiệp định tiền nhiệm của nó là GATT thì cũng có hiệu lực từ mãi năm 1947. Cả hai Hiệp định chủ yếu tập trung vào thương mại hàng hóa, chứ không tập trung nhiều vào dịch vụ.

Ông Cory nói thêm “Các quy định hiện hành của WTO chủ yếu được thống nhất vào giữa những năm 1990, khi internet còn chưa tồn tại, dẫn đến các quy định này không còn hiệu quả”.

Đó là lý do tại sao khi Trung Quốc tìm cách ngăn chặn các phụ tùng ô tô có xuất xứ Mỹ vào thị trường thì Mỹ nhanh chóng kiện thành công Trung Quốc lên WTO. Nhưng khi Trung Quốc ngăn chặn hoặc bóp nghẹt các trang mạng hay công cụ có xuất xứ Mỹ như Flickr, Pinterest hay Instagram, Mỹ đã không thể hành động tương tự.

Ông Schruer cho rằng “Chúng ta sẽ còn được chứng kiến các nước hạn chế quyền truy cập thông tin nếu như họ vẫn còn suy nghĩ là việc đó ko liên quan đến thương mại”. “Trừ khi xảy ra tranh chấp thương mại, thì những tập quán này mới biến mất được”.

Một trong các cơ hội để Mỹ sắp xếp lại thương mại toàn cầu cũng đã mất đi khi Ông Donald Trump đắc cử Tổng thống. Từ khi vận động tranh cử, Ông Trump đã phản đối Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), và ngay sau khi ông bước chân vào Nhà Trắng, ông liên lập tức chính thức rút Mỹ khỏi TPP. Trong khi hiệp định TPP có thể cung cấp cơ sở nền tảng giúp cho việc điều tiết thương mại dịch vụ số, ít ra là giữa 11 quốc gia thành viên.

Ông Cory cho rằng “Chương thương mại điện tử của TPP, biểu trưng cho bước tiến lớn trong việc pháp triển các quy tắc mới để hỗ trợ và bảo vệ cho thương mại số”. ITIF vẫn hi vọng rằng TPP, dù không có Mỹ, cũng có thể cung cấp một khuôn khổ cho chính sách toàn cầu trong tương lai. Ông nói “Nếu được thực thi – thậm chí khi không có Mỹ - những quy định này cũng sẽ bao trùm một phần lớn trong kinh tế toàn cầu, vì vậy, đây là bước tiến lớn tiến tới thành lập một chuẩn mực thế giới mới cho Trung Quốc và các quốc gia khác trong WTO hướng đến”.

Còn đây là lập luận ở chiều ngược lại. Trên khắp thế giới, những gã không lồ công nghệ số của Mỹ như Google, Facebook, Amazon, Microsoft và Apple đã kiểm soát gần hết thế giới mạng. “google” đã trở thành động từ trong rất nhiều loại ngôn ngữ trên thế giới, cũng giống như từ “instagram”, “tweet” và “snap”. Ở hầu hết các nước, các công ty này của Mỹ đã thống trị các công cụ tìm kiếm, phương tiện xã hội, phương tiện trò chuyện hoặc phát trực tiếp, trừ một số nước như Hàn Quốc (với ứng dụng Naver) và Myanmar (với ứng dụng Viber). Trong khi trang mạng của Trung Quốc không bao giờ được các tín đồ công nghệ trong nửa cuối thập niên 90 - đầu thập niên 2000 nghĩ đến. và các trang mạng của Trung Quốc càng không thể thống trị ở qui mô toàn cầu.

Nơi duy nhất mà các gã khổng lồ Mỹ vẫn chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, đó chính là Trung Quốc. Mặc dù mục đích ban đầu của “Vạn lí trường thành trên mạng” là để bảo vệ Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhưng tường lửa này cũng đã chấp thêm cánh cho các công ty mạng trong nước. Ở Trung Quốc, người ta không nói “google” khi muốn tìm thông tin gì, mà người ta nói là “Baidu” (một công cụ tìm kiếm của người Trung Quốc). Tương tự, “tweet” cũng bị thay thế bằng “Weibo”, một mạng xã hội của Trung Quốc thay thế cho Twitter. Ngôn ngữ đã phản ánh quyền lực của các công ty Trung Quốc tại sân nhà, và quyền lực này ngành càng lớn mạnh dưới sự hậu thuẫn của bức tường lửa của Trung Quốc.

Ông Shanthi Kalathil, giám đốc diễn đàn quốc tế của Đảng dân chủ đã nói rằng “Thiếu vắng các công ty công nghệ của Mỹ đã cho phép các doanh nghiệp internet của Trung Quốc tăng trưởng nhanh vì không phải cạnh tranh hay chia sẻ thị phần trong nước với ai cả”.Và kết quả là tạo nên những gã không lồ công nghệ của chính Trung Quốc, như Tencent, Baidu và Alibaba.

Bảo hộ hay không bảo hộ?

Thật ra, mô hình bảo hộ để thúc đẩy phát triển kinh tế kiểu này không phải là mới, và đã được một số nước láng giềng của Trung Quốc áp dụng để tăng trưởng kinh tế. Ông Anindya Ghose, một chuyên gia của Trung Quốc ở Trường doanh nhân Stern, cho biết “Nhật Bản cũng bảo hộ tương tự với ngành công nghiệp ô tô, ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống chính trị và kinh tế của nước họ”.

Biện pháp bảo hộ chỉ hiệu quả khi nước đó không phải chịu trách nhiệm hoặc không bị trả đũa. Nước Nhật cũng không thể bảo vệ ngành công nghiệp ô tô mãi được. Năm 1981, nước này cũng buộc phải chấp nhận bị Mỹ áp hạn ngạch lên sản phẩm ô tô. Nhưng lúc đó, các công Nhật dù sao cũng đủ lớn mạnh để cạnh tranh trên một sân chơi bình đẳng với các nhà sản xuất ô tô của Mỹ và châu Âu. Toyota, hãng xe được lợi lớn nhất từ chính sách bảo hộ trước và sau năm 1981, hiện đang là nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới.

Hàn Quốc cũng áp dụng mô hình bảo hộ tương tự trong cả ngành công nghiệp ô tô lẫn công nghệ, chẳng hạn như Samsung và LG. Các nước không bảo hộ thì lại làm trì trệ ngành công nghiệp ô tô của quốc gia mình, đơn cử như Malaysia. Hãng xe Proton của nước này gần đây đã bị đối thủ cạnh tranh từ Trung Quốc mua lại. Việc không bảo hộ còn làm còn các ngành công nghiệp trong nước phụ thuộc hoàn toàn vào các công ty nước ngoài đặt nhà máy tại nước mình, như trường hợp Indonesia.

Ông Ghose cho rằng “Việc Facebook, Google, Twitter, Instagram và YouTube đều bị chặn tại Trung Quốc chắc chắn đem lại lợi ích cho các gã khổng lồ công nghệ của nước này như Baidu, Weibo và Tencent”. Ngày nay, các công ty này còn cực đoan đến mức họ không muốn chỉ cạnh tranh với các gã khồng lồ của Mỹ mà họ còn phải dẫn đầu trong công nghệ.

Câu hỏi đặt ra là: Tiếp theo là gì?

Trung Quốc chưa thể hiện dấu hiệu muốn giảm bớt các rào cản thương mại, mà thậm chí, Trung Quốc ngày càng đặt ra nhiều rào cản mạnh và mở rộng hơn, ví dụ như việc thẳng tay dẹp bỏ mạng riêng ảo (VPNs) và ban hành luật mới về an ninh mạng. 

Hơn nữa, trong vài năm trở lại đây, Trung Quốc đã cải cách vấn đề quản trị mạng theo một cách riêng,  đó là thông qua hệ tư tưởng “Chủ quyền Internet”.

Ông Kalathil nói “Trung Quốc dùng cụm từ “Chủ quyền Internet” như là một khung công cụ mở rộng bao quát tất cả các hoạt động của nước này liên quan đến Internet”. Quan điểm này cho phép mỗi quốc gia được quản trị không gian số nội bộ nước đó, miễn là chính phủ cảm thấy phù hợp, ít hoặc không liên quan đến cấu trúc quan trị toàn cầu.

Sức ảnh hưởng của Trung Quốc thật to lớn vì Trung Quốc đã là thị trường mạng lớn nhất thế giới, với khoảng 1,1 tỷ người dùng mạng trong năm 2016. Các quốc gia khác, như Nga chẳng hạn, đã bảy tỏ sự ủng hộ đối với cách quản lý kỹ thuật số của Trung Quốc.

Ông Kalathil cho rằng “Trung Quốc đã sử dụng quyền lực thị trường to lớn của mình để đặt ra luật lệ, điều mà các quốc gia khác không thể làm được vì không có thị trường tương đương”. Ví dụ, Wechat, ứng dụng phổ biến tại Trung Quốc đã có gần 800 triệu người dùng và tài khoản, chiếm đến 1/3 thời gian sử dụng mạng điện thoại. Điều đó đã giúp cho Wechat có cơ sở vững mạnh để vươn ra toàn cầu. Tính đến nay, Wechat cũng đã có được một số thành công bước đầu.

Mô hình của Trung Quốc lan ra toàn cầu

Các quốc gia khác cũng đang muốn sao chép mô hình của Trung Quốc, phần lớn là bởi vì, mô hình này đã thành công ở Trung Quốc nếu tính về mục đích ban đầu: Đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn cầm quyền và kinh tế Trung Quốc vẫn đang lớn mạnh. Ở các quốc gia theo chế độ độc tài như Thái Lan hay Ai Cập, nơi mà chính quyền quân phiệt bị truyền thông mạng xã hội tấn công nặng nề, thì việc kiểm soát được mạng internet trong nước đối với chính phủ các nước này là cực kỳ hấp dẫn.

Ông Smith bày tỏ “Trung Quốc đang xuất khẩu mô hình tường lửa của mình cho các nước khác. Nghĩ đến việc các nước khác có thể sao chép dễ dàng chế độ kiểm duyệt hà khắc của Trung Quốc thôi cũng thật đáng sợ”.

Các chiến thuật mà trước đây chỉ của riêng Trung Quốc, nay đã bắt đầu trở nên phổ biến trên khắp thế giới. Việc hạn chế internet đã diễn ra ở Ai Cập, Ethiopia, Ả Rập Saudi, Ấn Độ (Kashmir) và vài nước khác trong những năm trở lại đây. Các cuộc tấn công mạng (DdoS), bắt nguồn từ vũ khí tấn công mạng của Trung Quốc “Khẩu thần công vĩ đại”, ngày càng gia tăng và ngày càng có mục tiêu rõ ràng hơn, ví dụ như tấn công vào các trang tin tức.

Trong khi đó, ở Trung Quốc, các biện pháp quản lý an ninh số, đã được thử nghiệm tại một số khu vực bất ổn như Tân Cương hay Tây Tạng, hiện nay đang được áp dụng khắp cả nước, còn được gọi là “chế độ chuyên chế kỹ thuật số”. Cùng với các dự án như hệ thống tín nhiệm xã hội, chính quyền Trung Quốc có thể nắm quyền kiểm soát toàn bộ dòng chảy thông tin từ người dùng mạng ở Trung Quốc. Các biện pháp kiểm soát này có thể còn mở rộng ra khỏi biên giới Trung Quốc.

Ông Kalathil cho biết “Bằng cách nỗ lực gia tăng ảnh hưởng lên toàn cầu, chính phủ Trung Quốc đang định hình và kiểm soát quyền ngôn luận không chỉ trong nước mà trên thế giới. Cộng đồng quốc tế - không phải chỉ là chính phủ các nước, mà bao gồm cả khu vực tư nhân và dân chúng – nên nhận ra rằng hiện tượng này đã và đang diễn ra, chúng ta cần chung tiếng nói để ủng hộ cho các giá trị dân chủ cốt lõi”.

Nếu WTO hay một TPP-không-Mỹ không thể gỡ bỏ các rào cản kỹ thuật số, vậy thì đã đến lúc để các nước tự mình đấu tranh. Chúng ta đã thấy có dấu hiệu từ đầu năm, khi Nga - quốc gia ủng hộ quan điểm “chủ quyền internet” của Trung Quốc – cũng đã chặn ứng dụng WeChat, khiến cho Trung Quốc nếm mùi bị trả đũa lần đầu tiên. Vậy liệu các quốc gia khác, có thể là Mỹ chẳng hạn, sẽ dùng các biện pháp trả đũa lên Trung Quốc, như Mỹ đã làm trước đây với ngành ô tô của Nhật vào những năm 1980 hay không?

Ông Smith nói “Chính quyền Mỹ có thể dễ dàng chặn ứng dụng WeChat ở Mỹ, tạo ra sự bất tiện lớn cho người Trung Quốc đang sống, làm việc và học tập trên đất Mỹ. Tuy nhiên, điều này lại đi ngược với ý tưởng về tự do mạng và đây là điều tôi không ủng hộ chút nào. Nhưng nếu như Trung Quốc vẫn tiếp tục quá đáng, có lẽ đã đến lúc phải thay đổi cách suy nghĩ”.

Trong khi đó, các công ty công nghệ có lẽ sẽ tự uốn mình theo các quy định của các nước. Ví dụ như Facebook, công ty theo đuổi thị trường Trung Quốc hàng năm trời, đã phải phát triển cho Trung Quốc công cụ kiểm duyệt, như một sự đánh đổi để được trở lại thị trường này. Có thể, tương lai của mạng toàn cầu sẽ là: Nhiều tường lửa kiểu “Vạn lý trường thành trên mạng” hơn, và những gã khổng lồ công nghệ sẽ phải sửa lại những sản phẩm của mình cho phù hợp với quy định của từng quốc gia. Tương lai này quá khác biệt so với giấc mộng về một mạng toàn cầu mở mà nhiều người đã từng mơ đến không lâu trước đây.

Nguồn: Engadget – TQ

Từ khóa: thiếu vắng, cuộc chiến thương mại, chống lại, chủ nghĩa bảo hộ số, Trung Quốc

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008779209
Go to top