
Do các mối quan hệ thương mại đang được định hình lại, cơ cấu tiền tệ cho hoạt động giao thương có thay đổi trong giai đoạn 2022-2023 không?
Câu trả lời là không nhiều đối với các quốc gia nghiêng về Mỹ, nhưng đã có những thay đổi rõ ràng hơn đối với các quốc gia ủng hộ Trung Quốc.
Đối với các quốc gia thân Trung Quốc, tỷ trọng thanh toán giao thương bằng USD đã giảm kể từ đầu năm 2022. Đồng thời, tỷ trọng sử dụng Nhân dân tệ đã tăng hơn gấp đôi, từ khoảng 4% lên 8%.
Đây không phải là câu chuyện chỉ có ở Nga. Trên thực tế, tỷ trọng đồng Nhân dân tệ trong hoạt động thương mại giữa các nền kinh tế ủng hộ Trung Quốc sẽ chỉ thấp hơn một chút nếu không tính đến số liệu từ Nga. Hầu hết các hoạt động giao thương bằng đồng Nhân dân tệ được ghi lại trong dữ liệu SWIFT cho thấy giao dịch loại này diễn ra giữa Trung Quốc và các quốc gia thân Trung Quốc.
Về phía Trung Quốc, tỷ trọng Nhân dân tệ trong tất cả các giao dịch xuyên biên giới giữa những tổ chức phi ngân hàng Trung Quốc với các đối tác nước ngoài cách đây 15 năm ở mức gần bằng 0 nhưng đã tăng lên khoảng 50% vào cuối năm 2023. Ngược lại, tỷ trọng sử dụng USD giảm dần, từ khoảng 80% năm 2010 xuống còn 50% vào năm 2023.
Việc sử dụng đồng Nhân dân tệ ngày càng tăng có thể là do sự ra đời Hệ thống thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới (CIPS) - một cơ chế do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc giới thiệu nhằm cung cấp các dịch vụ thanh toán bù trừ và thanh toán cho các giao dịch xuyên biên giới bằng Nhân dân tệ.
Nhìn vào dự trữ ngoại hối toàn cầu, diễn biến đáng chú ý nhất trong giai đoạn 2022-23 là việc các Ngân hàng trung ương tăng cường dự trữ vàng.
Vàng thường được coi là tài sản trung lập về mặt chính trị, có thể được lưu trữ dễ dàng cũng như khá an toàn trước các lệnh trừng phạt hoặc tịch thu. Vàng cũng có thể là một biện pháp phòng ngừa lạm phát nhưng không thể dễ dàng sử dụng trong các giao dịch.
Tỷ trọng vàng trong dự trữ ngoại hối của các quốc gia thân Trung Quốc đã tăng lên kể từ năm 2015 - một xu hướng không chỉ do nền kinh tế lớn nhất châu Á và Nga thúc đẩy. Điều quan trọng là trong cùng thời gian đó, tỷ trọng vàng trong dự trữ ngoại hối của các quốc gia ủng hộ Hoa Kỳ nhìn chung ổn định.
Điều này cho thấy việc mua vàng của một số Ngân hàng trung ương có thể bị thúc đẩy bởi lo ngại về rủi ro bị trừng phạt kinh tế. Quan điểm đã nêu phù hợp với một nghiên cứu gần đây của IMF xác nhận rằng các nhà quản lý dự trữ ngoại hối có xu hướng tăng lượng vàng nắm giữ để phòng ngừa những bất ổn kinh tế và địa chính trị, bao gồm cả rủi ro bị trừng phạt.
Đối với Trung Quốc, tỷ trọng vàng trong tổng dự trữ ngoại hối của nước này đã tăng từ dưới 2% năm 2015 lên 4,3% vào năm 2023. Trong khi đó, giá trị nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ của Trung Quốc so với dự trữ ngoại hối đã giảm trong khoảng từ 30% đến 44% . Điều này phản ánh cả hiệu ứng mua ròng và tái định giá.
Xu hướng Trung Quốc giảm mua trái phiếu Mỹ vẫn không thay đổi ngay cả khi một số trái phiếu loại này được Trung Quốc lưu ký tại Bỉ (Euroclear).
Nếu sự phân mảnh kinh tế ngày càng sâu sắc, chi phí tác động sẽ như thế nào? Và những chi phí đó sẽ được luân chuyển thế nào?
Thương mại là kênh chính mà qua đó sự phân mảnh có thể định hình lại nền kinh tế toàn cầu. Việc áp đặt các hạn chế đối với thương mại sẽ làm giảm hiệu quả đạt được từ chuyên môn hóa, hạn chế tính kinh tế theo quy mô và giảm cạnh tranh trên câp độ toàn thế giới. Hoạt động giao thương với vai trò khuyến khích tái phân bổ trong nội bộ ngành và tăng năng suất sẽ bị hạn chế. Thương mại bị giới han hơn cũng có nghĩa là sự phổ biến kiến thức cùng hoạt đông đầu tư xuyên biên giới sẽ bị kìm hãm. Một ví dụ hữu ích là Brexit. Do mối liên kết rộng rãi giữa châu Âu và Vương quốc Anh, Brexit được cho là có tác động tiêu cực lớn đến nền kinh tế xứ sương mù.
Sự phân mảnh tài chính cũng dẫn đến nhiều thiệt hại. Tài chính bị kìm hãm sẽ hạn chế tích lũy vốn vì FDI sẽ giảm, đồng thường ảnh hưởng đến việc phân bổ vốn, giá tài sản và hệ thống thanh toán quốc tế. Phân mảnh tài chính cũng có thể làm suy yếu hệ thống chia sẻ rủi ro quốc tế, dẫn đến biến động tài chính vĩ mô ở từng quốc gia cũng như rủi ro khủng hoảng do những cú sốc đặc thù. Hệ thống thanh toán toàn cầu có thể bị phân mảnh theo ranh giới địa chính trị với sự xuất hiện của các nền tảng thanh toán mới với khả năng tương tác hạn chế. Kết quả là hệ thống thanh toán sẽ trở nên kém hiệu quả và khiến các tiêu chuẩn và quy định trở nên rời rạc.
Ngoài ra, dự trữ ngoại hối có thể được điều chỉnh lại để phản ánh các liên kết kinh tế mới và rủi ro địa chính trị. Một hệ thống toàn cầu với nhiều loại tiền dự trữ có thể mang lại một số lợi ích, bao gồm lượng tài sản an toàn lớn hơn và nhiều cơ hội hơn để đa dạng hóa dự trữ ngoại hối. Nhưng sự ổn định của một hệ thống như vậy sẽ gặp rủi ro nếu không có sự phối hợp chính sách chặt chẽ giữa tất cả các quốc gia phát hành tiền dự trữ – bao gồm thông qua mạng lưới hoán đổi. Điều này sẽ không thể thực hiện được nếu thế giới bị chia cắt theo các đường ranh giới địa chính trị.
Các ước tính về chi phí của việc phân mảnh kinh tế rất khác nhau và thường không chắc chắn. Trong kịch bản khả quan, tổn thất có thể chỉ ở mức 0,2% GDP toàn cầu, ngược lại, trong kịch bản phân mảnh cực đoan, tổn thất có thể lên tới 7% GDP. Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự phân mảnh trong một thế giới được chia thành hai khối xoay quanh Mỹ và Trung Quốc với một số quốc gia không liên kết có thể dẫn đến tổn thất dài hạn khoảng 2% GDP toàn cầu.
Một số nền kinh tế có thể hưởng lợi từ sự phân mảnh ở dạng nhẹ. Nhưng nếu tình trạng phân mảnh trở nên trầm trọng hơn, các quốc gia có thể chỉ còn lại một miếng bánh lớn hơn trong một chiếc bánh kinh tế nhỏ bé. Nói tóm lại, khi phân mảnh kinh tế kéo dài, các bên đều bị thiệt hại.
Một số nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có thể được hưởng lợi từ sự phân mảnh ở dạng nhẹ khi thương mại và FDI chuyển hướng sang những quốc gia này. Tuy nhiên, với tư cách là một nhóm nước, họ sẽ bị tác động tiêu cực mạnh mẽ bởi các hình thức phân mảnh nghiêm trọng hơn. Những nền kinh tế đã nêu phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu các sản phẩm chủ chốt, bao gồm cả hàng hóa, do đó việc tìm kiếm thị trường và nhà cung cấp mới khó khăn hơn và tốn kém hơn.
Nghiên cứu cho thấy các quốc gia có thu nhập thấp có thể phải chịu tổn thất sản lượng kinh tế toàn cầu mô phỏng gấp 4 lần so với các quốc gia khác trong trường hợp thị trường hàng hóa bị phân mảnh thành hai khối. Phần lớn thiệt hại là do các hạn chế thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp, vì các nước thu nhập thấp phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nông sản để nuôi sống người dân.
Ngoài ra, các thị trường mới nổi cũng như nhiều nền kinh tế đang phát triển phụ thuộc nhiều vào FDI từ những quốc gia công nghiệp giàu có. Do đó, các quốc gia này cũng sẽ không hưởng lợi gì từ việc những nền kinh tế phát triển chuyển dòng FDI đến những nền kinh tế thuộc một một nhóm khác hoặc về lại chính quốc.
Sự phân mảnh cũng sẽ cản trở những nỗ lực của nhân loại nhằm giải quyết những thách thức toàn cầu khác đòi hỏi sự hợp tác quốc tế. Phạm vi của những thách thức này—từ biến đổi khí hậu đến AI—là vô cùng lớn.
Phân tích gần đây của IMF cho thấy sự phân tách trong hoạt động giao thương các khoáng sản quan trọng đối với quá trình chuyển đổi xanh – chẳng hạn như đồng, niken, coban và lithium – sẽ khiến quá trình chuyển đổi năng lượng trở nên tốn kém hơn. Nguyên nhân là bởi những khoáng sản này chỉ tập trung tại một số địa lý và không dễ dàng thay thế. Do đó, gián đoạn thương mại có thể dẫn đến sự biến động mạnh về giá, hạn chế đầu tư vào năng lượng tái tạo và sản xuất xe điện.
Vậy nhân loại có thể làm gì để ngăn chặn những rủi ro nêu trên? Giải pháp lý tưởng là duy trì và củng cố hệ thống thương mại toàn cầu dựa trên luật lệ đa phương cũng như hệ thống tiền tệ quốc tế.
Tăng cường hệ thống thương mại sẽ đăt ra yêu cầu khôi phục cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Điều này cũng đòi hỏi các bên liên quan phải đạt nhiều tiến bộ hơn trong giải quyết những tranh chấp liên quan đến các khoản trợ cấp, cũng như hạn chế thương mại vì lý do an ninh quốc gia, đồng thời thiết lập hệ thống quy tắc và chuẩn mực quốc tế về việc sử dụng, thiết kế phù hợp các chính sách công nghiệp.
Để củng cố hệ thống tiền tệ quốc tế, cần có những nỗ lực phối hợp để ngăn chặn sự phân mảnh của hệ thống thanh toán toàn cầu cũng như các tiêu chuẩn và quy định liên quan. Thế giới cũng cần đảm bảo một mạng lưới an toàn tài chính xuyên biên giới có nguồn lực tốt và hiệu quả, cải thiện việc đo lường, giám sát dòng tiền điện tử xuyên biên giới, đồng thời duy trì đối thoại quốc tế về tái cơ cấu nợ.
Nhưng với tình hình hiện nay, viễn cảnh nêu trên khó có thể đạt được. Vì vậy, thế giới cần có những bước đi thực tế để xây dựng lại niềm tin.
Bước đầu tiên là tiếp tục mở các kênh liên lạc, và thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan. Đối thoại giữa Mỹ và Trung Quốc – điều mà thế giới đang chứng kiến – có thể giúp ngăn chặn những kết quả tồi tệ nhất xảy ra.
Các quốc gia không liên kết cũng có thể đóng vai trò lớn hơn – sử dụng sức mạnh kinh tế và ngoại giao của mình để giữ tiến trình hội nhập được nguyên trạng.
Bước thứ hai là hợp tác cùng nhau trên các lĩnh vực cùng quan tâm. Lấy chủ đề khí hậu làm ví dụ. Hơn 70 quốc gia đã cùng nhau thông qua các Cuộc thảo luận về ổn định cấu trúc môi trường và thương mại của WTO, qua đó xác định các cơ hội thúc đẩy thương mại hàng hóa, cũng như dịch vụ năng lượng tái tạo.
Trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại kỹ thuật số, xu hướng hợp tác cũng là dòng chảy chính. Tuy nhiên, những lĩnh vực này đang chứng kiến sự hạn chế về chính sách. Nhận ra khía cạnh đã nêu, 90 quốc gia đại diện cho hơn 90% thương mại toàn cầu đang cùng nhau hướng tới các quy tắc thương mại kỹ thuật số chung.
Bên cạnh đó, 71 thành viên WTO đã cùng nhau thảo luận về một thỏa thuận đa phương liên quan đến hệ thống nội luật về lĩnh vực dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy các khuôn khổ pháp lý minh bạch, có thể dự đoán và hiệu quả hơn. Dự thảo khung khổ đã nêu được mong đợi sẽ giúp giảm chi phí thương mại dịch vụ tới 127 tỷ USD.
Ngoài ra, nhóm nước G20 đang nỗ lực liên kết các hệ thống thanh toán xuyên biên giới nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí giao dịch.
Bước thứ ba là hạn chế các chính sách đơn phương có hại, bao gồm cả các chính sách công nghiệp. Mặc dù việc cố gắng khắc phục những thất bại của thị trường thông qua những biện pháp can thiệp chính sách là phù hợp nhưng cần được xử lý cẩn thận. Về mặt chính trị, các chính sách công nghiệp có thể khó hạn chế hoặc thu hồi do lợi ích tập trung và chi phí phân tán. Lịch sử đầy rẫy những câu chuyện cảnh báo về sai lầm chính sách, dẫn đến chi phí tài chính cao, tác động tiêu cực tới các quốc gia khác. Trên bình diện quốc tế, các chính sách nêu trên đã dẫn đến sự trả đũa lẫn nhau giữa những nền kinh tế, qua đó khiến sự chia rẽ thêm sâu sắc.
Việc tuân thủ các khuôn khổ pháp lý hiện hành cũng rất quan trọng để duy trì niềm tin giữa các quốc gia và vào hệ thống tiền tệ quốc tế.
Ví dụ, nhiều quốc gia đang theo dõi chặt chẽ cuộc thảo luận về khả năng sử dụng tài sản nhà nước của Nga, bao gồm cả dự trữ của Ngân hàng Nga, để hỗ trợ Ukraine. Mặc dù vấn đề đã nêu sẽ do các tòa án và những bên liên quan quyết định, nhưng đối với IMF, điều quan trọng là bất kỳ hành động nào cũng phải có đủ cơ sở pháp lý và không làm suy yếu chức năng của hệ thống tiền tệ quốc tế.
Mặc dù việc xây dựng lại niềm tin là điều khó khăn và có thể mất thời gian, nhưng điều quan trọng là phải tránh những kết quả tồi tệ nhất trong một thế giới đang bị chia rẽ. Việc duy trì một số lợi ích to lớn từ hội nhập kinh tế là điều rất đáng làm.
Nguồn: IMF
Từ khóa: tài chính, chia rẽ, Trung Quốc, Mỹ
Các tin khác
- Địa chính trị và tác động đối với thương mại toàn cầu, cũng như đồng đô la-Phần 1 - 28/05/2024
- Mỹ: Phía sau một nền kinh tế kiên cường - 28/05/2024
- Đừng để doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội phục hồi khi thị trường ấm lên - 28/05/2024
- Cải cách thuế đầu tư có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế? - 28/05/2024
- Sự thật về tăng trưởng kinh tế - 28/05/2024






















