JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnĐịa chính trị và tác động đối với thương mại toàn cầu, cũng như đồng đô la-Phần 1

Địa chính trị và tác động đối với thương mại toàn cầu, cũng như đồng đô la-Phần 1

28 lanh1 28.05.2024

Hàng loạt mối quan hệ kinh tế toàn cầu đang thay đổi theo những cách mà thế giới chưa từng thấy kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.

Sau thời gian dài đối mặt với hàng loạt cú sốc – bao gồm đại dịch COVID-19 và việc Nga xâm lược Ukraine – nhiều nền kinh tế đang đánh giá lại các đối tác thương mại của mình dựa trên những lo ngại về kinh tế và an ninh quốc gia. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đang được chuyển hướng theo đường hướng địa chính trị. Một số quốc gia đang đánh giá lại sự phụ thuộc nặng nề vào đồng đô la trong các giao dịch quốc tế cũng như hoạt động dự trữ ngoại hối.

Tất cả hoạt động đã nêu không hẳn có tác động tiêu cực. Đối mặt những yếu tố này, các nhà hoạch định chính sách ngày càng tập trung vào việc xây dựng khả năng phục hồi kinh tế. Nhưng nếu xu hướng nêu trên tiếp tục, thế giới có thể chứng kiến sự ​​thoái trào các quy tắc kết nối toàn cầu và cùng với đó là sự đảo ngược đáng kể những lợi ích đạt được từ hội nhập kinh tế.

Hãy xem xét kỹ hơn thế giới đã đi được bao xa trên con đường đã nêu. Các hạn chế thương mại mới đã tăng mạnh - hơn gấp ba lần kể từ năm 2019 - trong khi các biện pháp trừng phạt tài chính cũng được mở rộng. Chỉ số rủi ro địa chính trị đã tăng vọt vào năm 2022 sau khi Nga đưa quân vào Ukraine.

Bên cạnh đó, mối lo ngại của khu vực tư nhân về sự phân mảnh – theo thống kê - đã tăng lên.

Bất chấp những xu hướng nêu trên, vẫn chưa có dấu hiệu rõ ràng nào về quá trình phi toàn cầu hóa ở cấp độ tổng thể. Kể từ thời điểm khủng hoảng tài chính toàn cầu, khi quá trình siêu toàn cầu hóa những năm 1990 và đầu những năm 2000 kết thúc, tỷ lệ thương mại hàng hóa trên GDP gần như ổn định - dao động trong khoảng 41 đến 48%.

Tuy nhiên, bên dưới các con số, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy sự phân mảnh kinh tế đang diễn ra. Hàng loạt luồng thương mại và đầu tư đang chuyển hướng dưới tác động của các yếu tố địa chính trị.

Ví dụ, thị phần của Trung Quốc trong nhập khẩu của Hoa Kỳ đã giảm 8 điểm phần trăm trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2023 sau khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung bùng nổ. Trong cùng thời gian, tỷ trọng của Mỹ trong xuất khẩu của Trung Quốc giảm khoảng 4 điểm phần trăm.

Ngoài ra, thương mại trực tiếp giữa Nga và phương Tây đã sụp đổ sau cuộc xâm lược Ukraine và các lệnh trừng phạt liên tiếp áp lên Nga.

Còn những tác động của địa chính trị đối với quan hệ thương mại ở phạm vi rộng hơn thì sao?

Hãy xem xét một thế giới được chia thành ba nhóm: nhóm nghiêng về Mỹ, nhóm ủng hộ Trung Quốc và nhóm các nước không liên kết.

Tăng trưởng thương mại trung bình theo quý giữa các quốc gia ủng hộ Hoa Kỳ và các nền kinh tế thân cận Trung Quốc trong giai đoạn quý 2 năm 2022 – quý 3 năm 2023 thấp hơn gần 5 điểm % so với mức tăng trưởng thương mại trung bình hàng quý trong quý 1 giai đoạn 2017 – 2022.

Ở chiều ngược lại, tăng trưởng thương mại hàng quý trong nội bộ các nhóm quốc gia chỉ giảm 2 điểm %.

Sau thời điểm xung đột Nga-Ukraine bùng nổ, thương mại và dòng vốn FDI giữa các nhóm quốc gia giảm lần lượt khoảng 12 và 20% so với dòng chảy giao thương nội khối.

Điều đáng chú ý là xu hướng này không phải chỉ do Mỹ hay Trung Quốc thúc đẩy và vẫn tồn tại ngay cả khi hai quốc gia này bị loại ra khỏi bức tranh tổng thể.

Vấn đề đã nêu đặt ra một câu hỏi: Tại sao thế giới chưa thấy tác động lớn hơn đối với thương mại toàn cầu từ việc các đối thủ địa chính trị chủ động tách biệt khỏi các liên kết kinh tế?

Nguyên nhân là bởi một số hoạt động thương mại và đầu tư đang được định tuyến lại thông qua các bên thứ ba, bù đắp một phần cho sự xói mòn của các liên kết trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc. Kể từ năm 2017, sự hiện diện lớn hơn của Trung Quốc tại một nền kinh tế tầm trung– được đo lường thông qua xuất khẩu hoặc công bố đầu tư vào lĩnh vực mới – có liên quan mật thiết đến sự gia tăng xuất khẩu từ quốc gia đó sang Hoa Kỳ.

Sự nổi lên của các quốc gia “kết nối” này – trong đó đáng chú ý nhất là Mexico và Việt Nam – có thể đã giúp giảm bớt tác động từ mối liên kết thương mại đứt gãy giữa Mỹ và Trung Quốc đến nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, xu hướng đã nêu liệu có giúp đa dạng hóa các khoản đầu tư và tăng khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng hay không vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ.

Đường hướng trong tương lai sẽ phụ thuộc vào các nhà hoạch định chính sách. Họ có thể chấp nhận việc điều hướng thương mại và dòng FDI để bảo toàn một số lợi ích của hội nhập kinh tế. Ở chiều ngược lại, họ có thể tiếp tục dựng lên các rào cản đối thương mại và đầu tư xuyên biên giới, phá vỡ mối liên kết trực tiếp và gián tiếp giữa các quốc gia có khoảng cách chính trị xa xôi.

Mọi việc có thể tệ đến mức nào?

Để đánh giá mức độ tiềm ẩn của sự phân mảnh kinh tế trên cơ sở địa chính trị, cần so sánh sự phân mảnh thương mại hiện tại với thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Thương mại giữa nhóm quốc gia phương Tây và các nước phương Đông chứng kiến suy giảm đáng kể trong Chiến tranh Lạnh, so với giao thương trong nội bộ các nhóm này.

Cho đến nay, sự phân mảnh ngày nay không khác biệt đáng kể so với những năm đầu của Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, so với mức “đứt gãy giao thương giữa các nhóm quốc gia” trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, sự phân mảnh cho đến nay vẫn ở mức độ nhỏ hơn

Nhưng vẫn có lý do để lo ngại. Sự phân mảnh thương mại lần này nghiêm trọng hơn nhiều vì không giống như thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh khi giao thương hàng hóa trên GDP là 16%, giờ đây tỷ lệ là 45%. Bên cạnh đó, trước đây các quốc gia trong nội bộ từng khối hướng đến dỡ bỏ các hạn chế thương mại, thì giờ đây thế giới đang chứng kiến chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng với một số nền kinh tế hướng giảm bớt kết nối thương mại và đầu tư.

Vai trò của các quốc gia không liên kết trong các xung đột thương mại hiện hữu cũng khiến tình hình ngày nay khác với thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Bằng chứng cho thấy những quốc gia như vậy không đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh Lạnh - có thể là do tiềm lực kinh tế của những nước này nhỏ hơn và chuỗi cung ứng toàn cầu vào thời kỳ đó chưa phát triển. Ngày nay, các quốc gia đã nêu có sức mạnh kinh tế và ngoại giao lớn hơn, đồng thời hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Vai trò kết nối của họ lần này có thể giúp giảm bớt tác động tiêu cực của sự phân mảnh.

Liệu căng thẳng địa chính trị và sự thay đổi mô hình thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng đến loại tiền tệ trong hoạt động thanh toán xuyên biên giới cũng như dự trữ ngoại hối không?

Dữ liệu về việc sử dụng tiền tệ trong thương mại và tài chính quốc tế thưa thớt hơn và có độ trễ dài hơn so với số liệu thương mại. Mặc dù vậy, cho đến nay, số liệu cho thấy tác động từ sự phân mảnh kinh tế không đáng kể. Bất chấp rủi ro địa chính trị gia tăng, dữ liệu mới nhất chỉ ra rằng đồng đô la Mỹ vẫn chiếm ưu thế. Theo SWIFT, đồng đô Mỹ chiếm hơn 80% hoạt động tài chính thương mại, có thể là do phần lớn giao dịch hàng hóa tiếp tục được lập hoá đơn và thanh toán bằng đô la.

Đô la Mỹ cũng chiếm gần 60% dự trữ ngoại hối toàn cầu bất chấp việc các quốc gia xúc tiến đa dạng hóa dự trữ ngoại hối, chuyển dần sang các loại tiền dự trữ phi truyền thống như đô la Úc và đô la Canada.

(Còn tiếp)

Nguồn: IMF

Từ khóa: tài chính, chia rẽ, Trung Quốc, Mỹ

 

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008757975
Go to top