
Hiệp định TPP được thế giới kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ XXI. Hiệp định này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến xuất nhập khẩu nông sản nói chung và thủy sản nói riêng của Việt Nam. Bài viết này tập trung giới thiệu khái quát về TPP, phân tích thực trạng xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước thành viên TPP trong thời gian qua, làm rõ những cơ hội và thách thức đối với ngành thủy sản khi Việt Nam gia nhập TPP, đồng thời đưa ra được một số đề xuất và kiến nghị nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, góp phần thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường các nước thành viên TPP trong thời gian tới.
1. Giới thiệu chung về TPP
Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - TPP) lúc đầu chỉ có 4 nước tham gia nên còn được gọi là P4. Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chilê, New Zealand và Singapore (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mexico. Tháng 4 năm 2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4. Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP, tiếp theo đó tháng 11 năm 2008 Úc và Peru cũng tuyên bố tham gia TPP. Tại buổi họp báo công bố việc tham gia của Úc và Peru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập một khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra cho đến nay. Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Singapore đã rất tích cực mời Việt Nam tham gia TPP - P4. Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nhận lời mời này của Singapore. Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP, và trước khi tuyên bố tham gia TPP, Mỹ đã mời Việt Nam cùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam đã cân nhắc lại việc tham gia hay không tham gia TPP. Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách thành viên liên kết. Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán và trở thành thành viên của TPP. Trước đó, tháng 10 năm 2010, Malaysia cũng chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên thành 9 nước. Cho tới nay, Hiệp định TPP đã trải qua 7 vòng đàm phán, lần lượt được tổ chức tại các quốc gia thành viên là Úc (vào tháng 3 năm 2010), Hoa Kỳ (tháng 6 năm 2010), Brunei (tháng 10 năm 2010), New Zealand (tháng 12 năm 2010), Chilê (tháng 2 năm 2011), Singapore (tháng 3 năm 2011) và Việt Nam (tháng 6 năm 2011) với sự tham gia của 12 nước thành viên thuộc hai bờ Thái Bình Dương, bao gồm: New Zealand1, Brunei2, Chile3, Singapore4, Australia5, Peru6, Mỹ7, Malaysia8, Việt Nam9, Canada10, Mexico11 và Nhật Bản12. Đến nay Hiệp định TPP được thế giới kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21. Phạm vi của Hiệp định sẽ bao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương mại, trong đó có nhiều lĩnh vực mới như môi trường, lao động, các vấn đề xuyên suốt liên quan đến thương mại như chuỗi cung ứng, doanh nghiệp vừa và nhỏ v.v… Trong thời gian tới, khi TPP hoàn tất các nội dung đàm phán cuối cùng, chắc chắn sẽ mang lại những cơ hội và thách thức cho hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam.

Hình 1. Vị trí địa lý 12 quốc gia thành viên tham gia vào TPP
(Nguồn: Global health poison pill for poor wrapped in Obama’s trade bacon)
2. Hiện trạng xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam từ các nước thành viên TPP
2.1. Hiện trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang 11 nước thành viên TPP
Theo VASEP, năm 2014 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang 11 nước thành viên TPP đạt 3,81 tỷ USD, tăng 13,14% so với năm 2013, chiếm gần 49% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành thủy sản của Việt Nam. Trong đó, thị trường Mỹ chiếm 45,76%, Nhật Bản chiếm 31,77%, Canada chiếm 7,03%, Australia chiếm 6,27%, Singapore chiếm 2,86%, Mexico chiếm 3,28%, Malaysia chiếm 1,86%, New Zealand chiếm 0,59%, Chile chiếm 0,34%, Peru chiếm 0,2% và cuối cùng Brunei chiếm 0,04% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản (XKTS) của Việt Nam vào 11 nước thành viên TPP. Riêng 8 tháng đầu năm 2015 xuất khẩu thủy sản vào 11 nước thành viên TPP đạt 1,91 tỷ USD chiếm 46,02% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm của Việt Nam, cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước thành viên TPP cũng không có nhiều thay đổi so với năm 2014, vẫn tập trung chủ yếu ở thị trường Mỹ chiếm 42,19%, Nhật Bản chiếm 34,48%, các nước còn lại chiếm 23,33%. Như vậy nếu có là thành viên chính thức của TPP xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có tăng trưởng mạnh hay không còn phụ thuộc rất lớn đến việc tận dụng những cơ hội và tránh tối đa các thách thức khi tham gia vào khối TPP.

Hình 2. Hiện trạng XKTS của Việt Nam vào 11 nước thành viên TPP
(Nguồn: Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam tháng 8 năm 2015)

Hình 3. Cơ cấu thị trường XKTS của Việt Nam vào 11 nước thành viên TPP
(Nguồn: Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam tháng 8 năm 2015)
2.1. Hiện trạng nhập khẩu thủy sản của Việt Nam từ 11 nước thành viên TPP
Theo VASEP, năm 2014 tổng giá trị nhập khẩu thủy sản của Việt Nam từ 11 nước thành viên TPP đạt 170 triệu USD, tăng 13,17% so với năm 2013 và chiếm 17% tổng giá trị nhập khẩu toàn ngành thủy sản Việt Nam. Trong đó, nhập từ Mỹ chiếm 19,67%, Nhật Bản chiếm 35,92%, Canada chiếm 11,48%, Australia chiếm 1,85%, Singapore chiếm 2,79%, Mexico chiếm 0,49%, Malaysia chiếm 2,6%, New Zealand chiếm 3,7%, Chile chiếm 21,11%, Peru chiếm 0,37% và cuối cùng Brunei chiếm 0,02% tổng giá trị nhập khẩu khẩu thủy sản thủy sản của Việt Nam từ 11 nước thành viên TPP. Riêng 8 tháng đầu năm 2015 nhập khẩu thủy sản từ 11 nước thành viên TPP đạt 104 triệu USD. Trong đó, cơ cấu nhập khẩu thủy sản của Việt Nam từ các nước thành viên TPP cũng không có nhiều thay đổi so với năm 2014, vẫn tập trung chủ yếu ở 3 thị trường chính là Mỹ chiếm 18,62%, Nhật Bản chiếm 41,9%, Chile chiếm 19,51%, nhập khẩu thủy sản của Việt Nam từ các nước còn lại chiếm 19,97%. Nếu thuế xuất nhập khẩu về 0% sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu của Việt Nam nhập khẩu chế biến rồi tái xuất ra thị trường các nước thành viên TPP và các thị trường khác không phải là thành viên TPP, đặc biệt là thị trường EU. Tuy nhiên, việc tạm nhập tái xuất chỉ được hưởng thuế suất 0% khi nhập nguyên liệu từ các nước thành viên TPP và phải chứng minh được nguồn gốc nhập từ các nước thành viên TPP, trong khi đó 83% nguyên liệu thủy sản còn lại của Việt Nam chủ yếu được nhập từ các nước không phải là thành viên TPP vì vậy cơ hội cũng không phải nhiều, vì nếu nhập từ các nước không phải là thành viên TPP sau đó chế biến rồi tái xuất sang thị trường các nước thành viên TPP vẫn phải chịu thuế suất theo qui định.

Hình 4. Hiện trạng NKTS của Việt Nam từ 11 nước thành viên TPP
(Nguồn: Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam tháng 8 năm 2015)

Hình 5. Cơ cấu thị trường NKTS của Việt Nam từ 11 nước thành viên TPP
(Nguồn: Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam tháng 8 năm 2015)
3. Cơ hội và thách thức đối với xuất hập khẩu thủy sản khi Việt Nam tham gia TPP
Theo Bộ Công Thương, TPP sẽ hình thành một khu vực mậu dịch tự do chiếm tới 40% kinh tế và 30% thương mại toàn cầu với 800 triệu dân được dự báo sẽ bổ sung cho GDP thế giới thêm gần 300 tỷ USD mỗi năm vì vậy khi Việt Nam tham gia vào TPP sẽ mang đến cả cơ hội và thách thức cho ngành thủy sản. Tuy nhiên phần thách thức sẽ nhiều hơn phần cơ hội rất nhiều thể hiện trên các mặt sau:
3.1. Cơ hội đối xuất nhập khẩu thủy sản Việt Nam
- Thứ nhất, cơ hội có được từ việc cắt giảm thuế quan khi xuất khẩu thủy sản sang các nước thành viên TPP nhờ được giảm ngay 90% các loại thuế xuất nhập khẩu hàng hóa và cắt giảm bằng 0% từ năm 2015 (Năm 2014 hai thị trường xuất khẩu lớn trọng điểm là Mỹ và Nhật Bản chiếm tới gần 49% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam và chiếm tới gần 80% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước thành viên viên của TPP). Đây sẽ là cơ hội rất tốt cho ngành thủy sản của Việt Nam phát triển trong thời gian tới nếu biết tận dụng tối đa các cơ hội và tránh tối đa các thách thức khi tham gia vào TPP;
- Thứ hai, nhờ thuế suất 0% các doanh nghiệp CBTS trong nước tận dụng được tối đa công suất dư thừa nhờ nhập khẩu nguyên liệu thủy sản từ các nước thành viên TPP, sau đó chế biến và tái xuất sang thị trường các nước thành viên TPP và thị trường các nước không phải là thành viên TPP, đặc biệt là thị trường EU, và cần phải chú ý rằng chỉ có nguyên liệu nhập từ các nước thành viên TPP mới được hưởng thuế suất 0%, còn lại nhập từ các nước không phải thành viên TPP vẫn phải chịu thuế suất theo qui định;
- Thứ ba, tăng sức cạnh tranh nhờ sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất giá rẻ như vận tải, lưu kho ở các nước thành viên TPP... ngoài ra, còn tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực sản xuất nguyên liệu trong nước phát triển nhờ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu vật tư, trang thiết bị máy móc giá rẻ hơn từ các nước thành viên TPP; tăng cơ hội hợp tác liên doanh để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến chuỗi sản xuất các mặt hàng thủy sản;
- Thứ tư, tăng cường cơ hội tiếp cận vốn và KHCN thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI, vì khi ký kết tham gia TPP một số nước không có lợi thế về nông nghiệp, khi giảm hàng rào bảo hộ nông nghiệp thì có thể họ sẽ chuyển nguồn đầu tư sang Việt Nam. Bên cạnh tăng cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động điều quan trọng nhất là nền sản xuất thủy sản của Việt Nam sẽ hấp thụ được khoa học kỹ thuật mới để nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thứ năm, hội nhập còn tạo động lực phát triển kinh tế xã hội ngành thủy sản, tạo động lực đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, thúc đẩy tính minh bạch môi trường chính sách có liên quan đến thủy sản cho phù hợp với qui định của quốc tế và của các nước thành viên TPP.
- Thứ sáu, những nội dung của Chương về mua sắm công có thể là một cơ hội cho thủy sản nước ta, vì lúc này các doanh nghiệp thủy sản có thể trực tiếp tham gia các gói thầu cung cấp nguyên liệu cho các bếp ăn sử dụng ngân sách công của các nước thành viên trong TPP.
- Thứ bảy, cơ hội để thanh lọc các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản chộp giật, sản xuất không bền vững, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật theo qui định của TPP có nguy cơ bị phá sản, giải thể hoặc sát nhập... đây sẽ là cơ hội rất tốt để tái cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
3.2. Thách thức đối với xuất nhập khẩu thủy sản Việt Nam
Bên cạnh cơ hội, sản xuất và xuất nhập khẩu thủy sản còn phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Cụ thể các thách thức mà ngành thủy sản phải đối mặt gồm:
- Thứ nhất, hiện nay thuế nhập khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam áp dụng từ 10 - 30% đối với các nước. Mặc dù đã chịu thuế lớn, song một số mặt hàng thủy sản của một số nước khi vào Việt Nam vẫn rẻ hơn hàng trong nước. Ví dụ, như giá cá cam khai thác từ Nhật Bản vào Việt Nam chỉ khoảng 1,5 USD/kg (tương đương khoảng 33.000 đồng/kg). Trong khi giá cá cam thô chưa qua chế biến tại thị trường trong nước có mức giá 120.000 đồng/kg thì cũng loại cá này đã qua chế biến nhập từ Nhật Bản về Đà Nẵng tính cả thuế cũng chỉ 40.000-50.000 đồng/kg, nếu thuế nhập về 0% chắc chỉ còn 30.000 đồng/kg”; cá cu là loại cá ngon ở Đà Nẵng, giá bán sỉ khoảng 100.000 đồng/kg, nhưng nhập khẩu từ Nhật về chỉ bán khoảng 50.000 đồng/kg (đã tính thuế nhập khẩu). Và nếu mở cửa toàn diện (thuế suất 0%) rất có thể tàu cá nước ngoài có thể cập cảng Việt Nam để bán cá tươi và cạnh tranh trực tiếp với ngư dân Việt Nam. Ngoài ra, đối với sản phẩm tôm nuôi nhờ áp các tiến bộ khoa học trong sản xuất giống, thức ăn, công nghệ nuôi tỷ lệ thành công ở các nước đạt 70% (Việt Nam chỉ đạt trên dưới 30%) vì vậy giá thành sản xuất của Việt Nam luôn cao hơn các nước từ 10-30% vì vậy dù thuế có về 0% thì cũng không có lợi thế cạnh tranh, với mức giá này thì không một cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản trong nước nào có thể tồn tại được. Hệ quả tất yếu sẽ xảy ra là các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với sản phẩm thủy sản của các nước thành viên TPP, thị phần hàng hóa sản phẩm thủy sản của Việt Nam sẽ bị thu hẹp, thậm chí là nguy cơ mất thị phần ở thị trường nội địa nếu như Việt Nam không xây dựng cho mình được các rào cản kỹ thuật hiện đại phù hợp;
- Thứ hai, càng hội nhập sâu và rộng đi kèm theo luôn là các rảo cản kỹ thuật thương mại (Technical Barriers to Trade-TBT) và biện pháp vệ sinh dịch tế (Sanitary and Phytosanitary Measures-SPS) để bảo hộ sản xuất thủy sản trong nước của các nước thành viên TPP, bởi dù thuế nhập khẩu vào các nước có được cắt giảm hết về 0% nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dự lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác hàng hóa, truy nguồn gốc, trách nhiệm xã hội... sẽ được kiểm soát chặt chẽ với tần suất nhiều hơn để hạn chế xuất khẩu thủy sản của các nước, điều này thậm chí còn có thể rủi ro hơn nhiều so với thuế quan. Trong khi đó, đàm phán TPP liên quan đến vấn đề này hiện nay hầu như không giải quyết được vướng mắc này đối với Việt Nam vì các nội dung đàm phán không đề cập tới vấn đề hạn chế quyền ban hành các điều kiện SPS, TBT mới của các nước thành viên TPP vì vậy các nước này vẫn được đơn phương đưa ra áp dụng các điều kiện SPS và TBT mới hoặc điều chỉnh, từ đó ngăn chặn việc nhập khẩu thủy sản của các nước thành viên TPP nói chung và Việt Nam nói riêng. Thực tế khi đàm phán chỉ xoay quanh các vấn đề liên quan đến hợp tác và xử lý các vướng mắc, một vấn đề chỉ liên quan đến rút ngắn thời gian xử lý, khiếu nại, còn các điều kiện kiểm dịch vẫn giữ nguyên;
- Thứ ba, các thách thức liên quan đến vấn đề trách nhiệm xã hội và môi trường liên quan trực tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thủy sản nếu không được đàm phán quyết liệt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu thủy sản. Ví dụ, trong dự thảo chương lao động, các qui định về vấn đề an toàn lao động, tiền lương, giờ làm việc, vệ sinh lao động, cấm lao động cưỡng bức, cấm lao động trẻ em... nếu điều khoản về việc chặn và buộc trả lại toàn bộ hàng xuất khẩu được làm từ lao động trẻ em tại biên giới hoặc các quyền và nghĩa vụ của người lao động không được đảm bảo;
- Thứ tư, các thách thức liên quan đến vấn đề bảo hộ bản quyền (quyền sở hữu trí tuệ) sẽ có rủi ro rất lớn đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản sử dụng công nghệ, sử dụng phần mềm máy tính không rõ nguồn gốc, hoặc không có bản quyền… Vì vậy, nếu áp dụng điều khoản này hàng thủy sản của Việt Nam sẽ bị hạn chế rất nhiều khi tiếp cận thị trường các nước thành viên TPP;
- Thứ năm, vấn đề thương hiệu, ghi nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc là yêu cầu bắt buộc khi xâm nhập thị trường các nước thành viên TPP, trong khi vấn đề này đối với ngành thủy sản Việt Nam lại đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, còn có quá nhiều bất đồng và thiếu sự thống nhất giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cơ sản xuất nguyên liệu, thu mua và chế biến… Nếu không đáp ứng tốt điều khoản tham chiếu này thủy sản Việt Nam sẽ bị hạn chế rất nhiều khi xâm nhập thị trường các nước thành viên TPP nói chung và các nước không phải là thành viên TPP nói riêng.
- Thứ sáu, quy tắc xuất xứ của hàng hóa, lĩnh vực mà ngành thủy sản Việt Nam luôn ở thế yếu trong những năm qua. Do yêu cầu về xuất xứ hàng hóa nên những doanh nghiệp nào nhập khẩu nguyên liệu ở dạng tạm nhập tái xuất sẽ bị hạn chế rất nhiều vì phải chứng minh nguồn gốc xuất xứ và không được hưởng ưu đãi thuế nếu nguồn nguyên liệu đó không được sản xuất tại một trong những quốc gia thành viên TPP (có nghĩa nếu nguyên liệu nhập từ các nước không phải thành viên TPP thì vẫn bị áp thuế bình thường).
4. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang các nước thành viên TPP
- Thứ nhất, để bảo hộ các sản phẩm thủy sản và các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản trong nước phát triển, Việt Nam cần chuẩn bị xây dựng các rào cản kỹ thuật TBT và SPS hiện đại và phù hợp nhằm hạn chế sự xâm nhập ồ ạt các sản phẩm thủy sản từ các nước thành viên TPP, có như vậy mới bảo hộ được ngành thủy sản trong nước trước sức ép của hội nhập kinh tế;
- Thứ hai, Việt Nam cần phải đẩy mạnh nghiên cứu áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất con giống chất lượng cao, thức ăn... tránh quá phụ thuộc vào nhà đầu tư nước ngoài (các doanh nghiệp FDI) để nâng cao năng suất, chất lượng và giảm giá thành sản phẩm chí ít giá thành sản xuất cũng phải bằng mức trung bình của các nước thành viên TPP mới có thể tận dụng được các cơ hội khi tham gia vào TPP;
- Thứ ba, Việt Nam cần phải tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các vi phạm liên quan đến các qui định về trách nhiệm xã hội, môi trường, và các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhãn mác hàng hóa, truy suất nguồn gốc ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản (KTTS, NTTS, CBTS, DVTS) bảo đảm tuân thủ đúng các cam kết mà Việt Nam đã đàm phán khi gia nhập TPP, có như vậy mới giúp ngành thủy sản tránh được các rủi ro không đáng có khi gia nhập TPP.
- Thứ tư, để nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng phát triển thị trường rất cần thiết phải xây dựng thương hiệu sản phẩm thủy sản của Việt Nam, trên cơ sở bảo đảm đúng các cam kết ghi nhãn mác hàng hóa, truy nguồn gốc... Để làm được điều này hỏi hỏi phải có sự liên kết chặn chẽ theo chuỗi giá trị sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong đó, xác định doanh nghiệp CBTS là tác nhân quan trọng nhất chi phối đến hoạt động của chuỗi, đến từng tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm thông qua các cam kết về giá bán và giá thu mua nguyên liệu theo tín hiệu của thị trường, tạo tiền đề cho sự tham gia sâu và rộng hơn vào chuỗi giá trị thủy sản các nước thành viên TPP;
- Thứ năm, xây dựng chiến lược xuất khẩu và phân khúc thị trường các sản phẩm thủy sản vào các nước thành viên TPP, đặc biệt chú trọng giữ vững thị phần thị trường thủy sản của Việt Nam ở Mỹ và Nhật Bản (đây là hai thị trường chính chiếm tới gần 49% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam và chiếm tới gần 80% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước thành viên viên của TPP), đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường 9 nước thành viên TPP còn lại;
- Thứ sáu, Việt Nam cần xây dựng kênh phản ứng nhanh với các quốc gia thành viên TPP để giải quyết nhanh nhất các vướng mắc, khiếu nại về xuất nhập khẩu hàng hóa thủy sản nếu có, tránh tối đa các sản phẩm hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên TPP bị chững lại, hoặc nằm lưu kho quá lâu để chờ các thủ tục giải quyết theo qui định nếu có. Đấu tranh đòi công khai, minh bạch cung cấp cơ sở khoa học của việc đưa ra các chỉ tiêu, quy định về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm thủy sản.
- Thứ bảy, rà soát, bổ sung và điều chỉnh nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến thủy sản, đặc biệt là Luật thủy sản phù hợp với các qui định và cam kết của TPP về bảo vệ môi trường sinh thái và nguồn lợi thủy sản, bảo đảm các qui định về tránh nhiệm xã hội, sở hữu trí tuệ, truy nguồn gốc... cần minh bạch và công khai về các chính sách hỗ trợ tới các nước thành viên TPP.
- Thứ tám, do sản xuất thủy sản theo quy mô hộ là chính, công nghệ còn yếu kém vì vậy sẽ rất khó khăn khi mở cửa TPP. Đã là “sân chơi” chung, luật chơi chung thì ai mạnh người ấy thắng, nếu vẫn duy trì cách phát triển và quản lý như hiện nay thì chắc chắn sẽ thua, cần phải có tư duy phát triển lớn, tích tụ đất đai để giải phóng nông hộ thông qua các chính sách góp vốn đầu tư với doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài (nông dân có đất sẽ góp đất, nhà đầu tư có vốn sẽ đầu tư cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ... sau đó thu hút nông dân có đất vào làm công nhân, lợi nhuận có được sẽ được chia theo tỷ lệ giá trị góp vốn ban đầu), đây là hướng đi hiệu quả mà ngành cần phải chú ý quan tâm nếu tận dụng tối đa các cơ hội và giảm tối đa các thách thức tham gia vào TPP.
- Thứ chín, cần tiến hành rà soát lại toàn bộ các quy trình công nghệ ở tất cả các khâu KTTS, NTTS, CBTS... đặc biệt là các phần mềm máy tính chuyên dụng nếu sử dụng công nghệ, phần mềm máy tính không có bản quyền đồng nghĩa với việc sản phẩm thủy sản sẽ rất khó khăn khi xâm nhập thị trường các nước thành viên TPP (nếu như các nước áp dụng điều khoản sở hữu trí tuệ).
5. Kết luận
Khi Việt Nam tham gia TPP thì cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu đối với các sản phẩm thủy sản của Việt Nam là có, tuy nhiên những cơ hội này không phải là lớn và TPP không phải là “đại tiệc” đối với hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vì thực tế thuế nhập khẩu bình quân thủy sản của Việt Nam vào Mỹ ở mức trung bình 0,3% đối với thủy sản sống, 4,7% cho thủy sản đã qua chế biến; đối với thị trường Nhật Bản thủy sản của Việt Nam được hưởng thuế 0% nhóm 1 gồm 64/330 mặt hàng, nhóm 2 là nhóm các mặt hàng có lộ trình giảm thuế trong 3 năm với 8 dòng thuế phổ biến ở mức 3,5-7,2% nhóm 3 sẽ có lộ trình giảm thuế trong 5-10 năm tiếp, theo Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2009, ngoài ra một số nước thành viên TPP thuế đã bị loại bỏ theo đàm phán thương mại tự do (FTA) giữa các nước ASEAN hay ASEAN+ thuế xuất đã xấp xỉ bằng 0%. Trong khi đó giá thành sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vẫn cao hơn các nước thành viên TPP và các nước không phải thành viên TPP từ 10-30% tùy thuộc vào sản phẩm và thị trường nhập khẩu, vì vậy dù thuế xuất nhập khẩu có giảm về 0% thì cơ hội để mở rộng thị trường đối với sản phẩm thủy sản của Việt Nam là không nhiều và thuế suất không phải là điểm lợi cho thủy sản nước ta. Tuy nhiên phần thách thức đối với thủy sản là tương đối lớn, để đáp ứng tốt các phần thách thức trên giúp ngành thủy sản hội nhập sâu và rộng hơn vào khối TPP sẽ làm chi phí của doanh nghiệp tăng thêm từ 15-20% trong khi giá thành sản xuất các sản phẩm thủy sản của Việt Nam hiện nay cao hơn các nước khác từ 1-3 USD/kg chẳng khác nào cầm dao “đâm sau lưng” doanh nghiệp, vì vậy nếu không có các giải pháp để nâng cao năng xuất, chất lượng và giảm giá thành sản xuất, đặc biệt là Việt Nam không xây dựng được các các rào cản kỹ thuật hiện đại phù hợp để hạn chế nhập khẩu thủy sản từ các nước thành viên TPP ngành thủy sản sẽ rơi vào thời kỳ “khủng hoảng” dẫn đến “sụp đổ” trước sức ép của hội nhập.
6. Tài liệu tham khảo
1) Hà Văn Hội (2015), Tham gia TPP, cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam. Tạp chí khoa học Đại học QGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 31, số 1 (2015) 1-10;
2) Hiệp Hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (2015), Số liệu thống kê xuất nhập khẩu thủy của Việt Nam năm 2013, 2014, và 8 tháng năm 2015;
3) Hiệp Hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (2015), TPP Cơ hội và thách thức cho thủy sản;
4) Phạm Duy Nghĩa (2013), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) cơ hội nào cho Việt Nam;
5) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2015), Thủy sản Việt Nam trước thềm TPP mừng ít, lo nhiều;
6) ThS. Nguyễn Đề Thủy (2015), Gia nhập TPP - Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam;
7) Tiểu Kiều (2015), TPP và cơ hội của doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, Tạp chí Thủy sản Việt Nam;
8) Trung tâm thông tin -Tư liệu thuộc Viện Kinh tế Chính sách chiến lược Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Tổng quan về Hiệp định đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương;
9) Trường Đại học Ngoại thương (2015), Tài liệu Hội thảo Tọa đàm nghiên cứu khoa học trao đổi về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP);
10) Trường Đại học Nông lâm TP. HCM (2015), Tài liệu Hội thảo Nông nghiệp Việt Nam và TPP cơ hội và thách thức;
11) TS. Nguyễn Quang Minh (2011), Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi tham gia Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP);
12) Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Hội thảo Khoa học “Đánh giá tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đến Việt Nam: Các tác động vĩ mô và trường hợp ngành chăn nuôi”.
ThS. Nguyễn Tiến Hưng
Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Nguồn : hoinhap.org.vn
Từ khóa : Cơ hội, và thách thức, đối với, xuất nhập khẩu, thủy sản, khi Việt Nam, gia nhập TPP.
Các tin khác
- M&A và rào cản thuế - 19/09/2016
- Chiến lược tăng trưởng thương mại toàn cầu của G20 - 16/09/2016
- TPP không tạo rào cản trong thu hút đầu tư vào Việt Nam - 16/09/2016
- CAM KẾT VỀ MUA SẮM CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU (EVFTA) - 15/09/2016
- Nếu không có TPP kinh tế Việt Nam liệu có đi xuống? - 15/09/2016






















