Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm đã có dấu hiệu phục hồi nhưng tốc độ tăng chậm do doanh nghiệp dè dặt đầu tư mở rộng sản xuất khi thị trường nội địa tiêu thụ vẫn khó khăn. Xuất khẩu hàng hoá cho dù tăng trưởng trên 16% so với năm 2012 nhưng chỉ bằng 49% kế hoạch năm do giá xuất khẩu của hai nhóm hàng chiếm giá trị lớn là nông sản và nhiên liệu khoáng sản giảm mạnh. Vì vậy, tại hội nghị giao ban sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm 2013 tổ chức tại Hà Nội ngày 1/7, Bộ Công Thương quán triệt: việc triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn để sản xuất và xuất khẩu về đích chính là nhiệm vụ ưu tiên cao nhất của ngành công thương trong những tháng còn lại của năm 2013.
* Chuyển biến tích cực, nhưng chưa thể mừng
Báo cáo của Vụ Kế hoạch - Bộ Công Thương tại hội nghị cho thấy: Mặc dù đạt mức tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2012 nhưng mức độ cải thiện chỉ số sản xuất công nghiệp qua từng tháng vẫn rất chậm. Một số ngành sản xuất như cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng và những ngành sản xuất hàng tiêu dùng khác sản xuất vẫn còn đình trệ do thị trường nội địa tiêu thụ chậm.
Vụ trưởng Vụ Thị trường Trong nước Võ Văn Quyền cho biết: Thị trường đang ở mức thấp do sức mua đang ở mức đáy kể từ năm 2011. Chỉ số tồn kho qua từng tháng đã giảm qua từng tháng nhưng trên thực tế, đây lại là sự điều chỉnh sản xuất của doanh nghiệp, thậm chí là thu hẹp sản xuất để giải phóng hàng tồn kho trong điều kiện nhu cầu tiêu dùng giảm. Về xuất khẩu, mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng tới 16,1% so với cùng kỳ 2012 nhưng cơ cấu, tỷ trọng của các nhóm hàng xuất khẩu, nhất là các nhóm hàng chiếm giá trị lớn, nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đã có sự thay đổi đáng kể. Cụ thể, nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đã giảm 7% về tỷ trọng, chỉ còn chiếm 15,7% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu do giá xuất khẩu bị giảm từ 15-25%. Tương tự như vậy, nhóm khoáng sản cũng chỉ còn chiếm 8,2% về tỷ trọng, giảm 10,05% trong tổng kim ngạch xuất. Vì vậy, tăng trưởng xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm chủ yếu nhờ vào nhóm chế biến chế tạo, dệt may, da giày; trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến đã góp 42,7 tỷ USD trên tổng kim ngạch xuất khẩu 62 tỷ USD và “ghi điểm” chủ yếu nhờ khối doanh nghiệp ngoại FDI. Trong khi đó, các khó khăn về thị trường tiêu thụ, vốn cho sản xuất xuất khẩu và rào cản thương mại vẫn chưa được tháo gỡ khiến “gánh nặng” hoàn thành mục tiêu kim ngạch xuất khẩu cả năm 2013 sẽ dồn vào 6 tháng cuối năm với giá trị bình quân phải đạt là 11 tỷ USD/tháng, cao hơn 700 triệu USD so với bình quân 6 tháng đầu năm.
Đặc biệt, quy định về ân hạn thuế có hiệu lực từ ngày 1/7 đang gây ra những khó khăn nhất định với doanh nghiệp. Theo đó, ân hạn thuế với hàng gia công xuất khẩu và hàng nhập khẩu phục vụ xuất khẩu là 215 ngày đối với doanh nghiệp có hồ sơ lý lịch tốt (luồng xanh). Tuy nhiên, thực tế triển khai tại Tp. Hồ Chí Minh cho thấy quy định này đang gây ra nhưng khó khăn cho doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu vật tư phục vụ sản xuất trong nước khi chỉ có doanh nghiệp với hàng nhập khẩu thuộc luồng xanh mới được ân hạn 215 ngày, còn lại đều phải nộp thuế trước hoặc có bảo lãnh của ngân hàng rồi mới được thông quan. Đây là gánh nặng lớn cho doanh nghiệp bởi hiện 70% hàng nhập khẩu về Việt Nam là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong khi doanh nghiệp lại vẫn gặp khó khăn lớn về vốn và tiếp cận vốn vay ngân hàng . Thêm vào đó, chính sách hoàn thuế VAT theo công văn 7527 của Bộ Tài chính (kiểm tra trước, hoàn sau) đang khiến doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, cà phê, thủy sản bị thiếu vốn hoạt động bởi lượng tiền hoàn thuế lên tới 40-50 tỷ đồng/tháng/doanh nghiệp. Ngoài ra, quy định hạ tải của cảnh sát giao thông khi ra khỏi cảng, dẫn tới ùn tắc giao thông ngoài cảng đang làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp và gây khó khăn cho việc vận chuyển nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu.
* Tháo gỡ khó khăn, khơi thông thị trường
Đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp, đại diện sở Công Thương An Giang khẳng định: Bộ Công Thương cần tập trung các giải pháp khơi thông thị trường xuất khẩu, nhất là cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có giá trị lớn của Việt Nam như lúa gạo và thủy sản. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội ngành hàng phát triển thêm các chuỗi liên kết gắn vùng sản xuất nguyên liệu, chế biến với tiêu thụ nhằm tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm hàng hóa. Đặc biệt, trong điều kiện xuất khẩu lúa gạo vẫn gặp khó khăn lớn do giá giảm, việc sớm ban hành Quy hoạch đầu mối xuất khẩu gạo của Bộ Công Thương sẽ giảm bớt sự cạnh tranh không cần thiết giữa các doanh nghiệp trong nước, tạo thuận lợi cho công tác xuất khẩu lúa gạo.
Đồng tình với quan điểm này, đại diện sở Công Thương Cần Thơ đề xuất Bộ Công Thương thành lập tổ chuyên gia nghiên cứu thị trường, tham mưu kịp thời với cơ quan quản lý và Chính phủ có chính sách xây dựng thương hiệu, tạo điều kiện cho con tôm, con cá Việt Nam tiếp tục có “chỗ đứng” trên thị trường xuất khẩu.
Nhằm khơi thông thị trường tiêu thụ trong nước, ông Võ Văn Quyền kiến nghị Bộ Công Thương và Chính phủ tiếp tục hỗ trợ nguồn vốn tập trung cho chương trình xúc tiến thương mại, nhất là thị trường trong nước bởi nguồn vốn cho cho hoạt động này còn quá nhỏ bé, khó mang lại hiệu quả cao. Ông Quyền cũng đề nghị các bộ, ngành liên quan phối hợp chặt chẽ với Vụ Thị trường trong nước triển khai các giải pháp hiệu quả nhằm xây dựng đề án mở rộng thị trường, tăng cường tiêu thụ, rút ngắn khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, để tiếp tục thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu, trong 6 tháng cuối năm, Bộ Công Thương sẽ tập trung triển khai các giải pháp, các đề án trong Chương trình hành động thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, đẩy mạnh các hoạt động đảm phán song phương, đa phương nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như tiếp tục tuyên truyền, phổ biến các Hiệp định Thương mại tự do đã ký kết để gia tăng xuất khẩu, tập trung khai thác tốt hơn các thị trường truyền thống, đồng thời quan tâm phát triển các thị trường mới, nhất là các thị trường có nhiều tiềm năng ở khu vực Đông Âu, Tây Á, Nam Á, châu Phi, Mỹ La tinh.
Bộ Công Thương cũng đang tập trung xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm một số ngành hàng có lượng hàng hóa lớn như gạo, thủy sản, cà phê, hạt tiêu, hạt điều đi đôi với nâng cao hiệu quả công tác thông tin, dự báo thị trường, kịp thời thông báo, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các nhà sản xuất, xuất khẩu về các loại rào cản của các nước nhập khẩu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, cải thiện chất lượng hàng hóa tránh rủi ro cho doanh nghiệp khi thực hiện các hợp đồng xuất khẩu.
Đối với thị trường trong nước, Bộ Công Thương tiếp tục đẩy mạnh và triển khai có hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước, đưa hàng Việt về nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo; tăng cường kiểm tra giám sát về chất lượng, xuất xứ, nguồn gốc hàng hoá, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, kiểm tra giá cả các mặt hàng thiết yếu hiện vẫn chưa kiểm soát được tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam tiêu thụ trên thị trường nội địa, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, ổn định thị trường xã hội. Theo dự báo của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương, nếu giá hàng nông sản, thủy sản xuất khẩu tiếp tục giữ vững ở mức hiện nay, kim ngạch xuất khẩu cả năm 2013 có thể đạt 12,8 tỷ USD, tăng khoảng 12% so với năm 2012.
Theo TTXVN
Các tin khác
- Cơ hội hợp tác, đầu tư sản xuất dầu cọ giữa Malaysia-Việt Nam - 11/08/2013
- Tạo cơ hội thuận lợi để thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản - 11/08/2013
- Cải thiện cơ cấu để gia tăng xuất khẩu - 11/08/2013
- Kinh tế vĩ mô 6 tháng: Tín hiệu phục hồi từ đáy - 11/08/2013
- Phát triển thương mại, động lực thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu - 11/08/2013






















