Ngành dệt may không nằm ngoài những khó khăn chung song cũng có những thế mạnh về thị trường khá rõ nét. Ngoài các thị trường xuất khẩu chính EU, Mỹ, Nhật Bản, các doanh nghiệp trong ngành cũng có kế hoạch mở rộng sang một số thị trường mới như Hàn Quốc, Đài Loan. Phóng viên “Kinh tế Việt Nam và Thế giới” có cuộc trao đổi với bà Phạm Nguyên Hạnh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), về những nỗ lực mở rộng thị trường của các doanh nghiệp dệt may.
Phóng viên (PV): Việc thiếu vốn, thiếu lao động hoặc chi phí đầu vào tăng là những áp lực gần như thường trực với doanh nghiệp. Trong thời gian vừa qua những yếu tố này ảnh hưởng như thế nào tới hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp dệt may thưa bà?
Bà Phạm Nguyên Hạnh: Theo tôi, thiếu vốn, thiếu lao động hay chí phí đầu vào tăng gần như là những áp lực thường trực đối với doanh nghiệp (DN) và nó còn gay gắt hơn trong thời gian vừa rồi. Đặc biệt, đối với ngành dệt may, áp lực này còn lớn hơn nữa bởi hoạt động của các doanh nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố lao động. Tuy nhiên, với sự cố gắng của toàn thể cán bộ, công nhân viên trong ngành và có sự chỉ đạo sát sao của Hiệp hội dệt may Việt Nam, cũng như lãnh đạo Tập đoàn dệt may Việt Nam, dệt may Việt Nam đã có chiến lược từ việc tăng tiền lương để thu hút người lao động, đảm bảo phân bổ cho các nhà máy may như thế nào cho hợp lý, chính vì vậy, phần nào đã giảm thiểu những khó khăn cho các doanh nghiệp trong ngành. Trong 6 tháng đầu năm, ngành dệt may Việt Nam vẫn đạt kim ngạch xuất 6,67 tỷ USD , riêng Tập đoàn Dệt may Việt Nam là một trong những đơn vị nòng cốt của ngành dệt may Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩu cũng đạt 1,26 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất, tăng trưởng xuất khẩu của Tập đoàn Dệt may Việt Nam sang các thị trường châu Á như Nhật Bản tăng 24%, Hàn Quốc 15% là động lực giảm áp lực từ thị trường EU và đảm bảo cho sự phát triển của Vinatex phát triển ổn định cả về lượng và về giá.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, tất cả những chi phí tăng lên ảnh hưởng rất lớn đến giá trị gia tăng cũng như hiệu quả nói chung của ngành dệt may và Tập đoàn dệt may nói riêng.
PV: Có một số ý kiến cho rằng việc giãn, hoãn thời hạn nộp thuế VAT chưa có tác động nhiều tới doanh nghiệp vì đơn hàng giảm, tồn kho cao vẫn chưa tiêu thụ được, vậy theo bà cần có những giải pháp thiết thực như thế nào để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong tình hình hiện nay?
Bà Phạm Nguyên Hạnh: Theo tôi, bất cứ chính sách nào của Chính phủ để hỗ trợ cho các ngành lúc này đều là cần thiết, tuy nhiên các chính sách có độ trễ của nó và để các doanh nghiệp tiếp cận được các chính sách thì bao giờ cũng cần thời gian. Cho dù dệt may chủ yếu vẫn xuất khẩu tới 85%, nếu nói thuế VAT không có tác dụng cũng không hẳn, nó cũng có những tác động nhất định.
Về phía ngành dệt may, chúng tôi ý thực được rằng, ngoài những chính sách chung của Nhà nước thì ngay bản thân ngành cũng phải có những giải pháp riêng để vượt qua những khó khăn. Chẳng hạn như phải đầu tư máy móc thiết bị, tăng hiệu suất của tài sản cố định, thực hiện việc rà soát công nợ, hàng tồn kho, hiệu quả vốn đầu tư… Đối với hàng tồn kho, chúng tôi đã có những biện pháp trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp với nhau, để đẩy mạnh vào khâu lưu thông. Ngoài ra chúng tôi còn có hệ thông siêu thị Vinatexmart, một kênh phân phối bán hàng trong nước được mở rộng, đây cũng là cách thức hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành. Theo chúng tôi chính sách hỗ trợ thiết thực cho các doanh nghiệp lúc này là Nhà nước cần có những chính sách cho đầu tư đầu vào, đào tạo nguồn nhân lực…
PV: Thưa bà, xuất khẩu dệt may đạt mức tăng trưởng khả quan từ đầu năm đến nay, nhưng mới chiếm được một thị phần rất khiêm tốn trong tổng nhập khẩu của các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản… Vậy làm thế nào để doanh nghiệp tìm kiếm được khách hàng và đơn hàng khi dư địa xuất khẩu vẫn còn rất lớn?
Bà Phạm Nguyên Hạnh: Ngành dệt may cũng trong bối cảnh khó khăn chung song cũng có những thế mạnh khá rõ nét. Cụ thể như thị trường Mỹ, trong lúc khó khăn như hiện nay, chúng tôi dự báo từ nay đến cuối năm, toàn ngành cũng đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 8 tỷ USD, tức sẽ có mức tăng từ 13 đến 15% so với 2011. EU năm 2012 dự báo tăng khoảng 8%, Nhật Bản tăng trưởng 15 - 20%, Hàn Quốc tăng 11% vượt ngưỡng 15 tỷ USD trong năm 2012. Ngoài các thị trường chính EU, Mỹ, Nhật Bản, các doanh nghiệp trong ngành cũng có kế hoạch mở rộng sang một số thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Đài Loan.
Con số 6 tháng đầu năm cho thấy, xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc của Tập đoàn đã tăng 15% so với cung kỳ, đạt 84 triệu USD, là thị trường tăng trưởng cao đứng thứ hai sau Nhật Bản.
Triển vọng các mặt hàng dệt may xuất khẩu sang Hàn Quốc là rất lớn, đặc biệt là nhóm mặt hàng quần áo thời trang thể thao, vì vậy, chúng tôi kỳ vọng ngoài thị trường chính, chúng tôi mở ra thị trường mới. Nhu cầu thời trang luôn luôn phải đổi mới, có sự biến động nếu như doanh nghiệp vượt qua được những thách thức thì chắc chắn rằng mặt hàng dệt may của chúng ta sẽ tiến tới thành công. Cả năm, Tập đoàn Dệt may dự kiến đạt kim ngạch xuất khẩu 2,6 tỷ USD, tăng 16% so với 2011. Có nghĩa trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, dệt may vẫn phấn đấu tăng trưởng ở mức 16%.
PV: Xin cảm ơn bà!
Hằng Trần/TTXVN
Các tin khác
- Nhập siêu 7 tháng chỉ chiếm 0,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu - 25/07/2012
- Giúp doanh nghiệp gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu - 21/07/2012
- Người tiêu dùng vẫn chưa thực sự được bảo vệ - 19/07/2012
- Giải phóng hàng tồn kho - nhiệm vụ hàng đầu - 19/07/2012
- Tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ - 18/07/2012






















