
Mỹ hiện có hiệp định thương mại tự do với 20 quốc gia, chiếm 46% sản lượng xuất khẩu và 40% tổng hàng hóa trong thương mại. Hiện 2 nước Canada và Mexico - đối tác chính của Mỹ trong Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) - chiếm 27% tổng kim ngạch thương mại của Mỹ.
Gần đây, Mỹ thông báo đang chuẩn bị đàm phán hiệp định thương mại tự do với UAE và Oman. Theo phía Mỹ, hiệp định thương mại này sẽ giúp phát triển tầm nhìn và tăng trưởng kinh tế và dân chủ ở TrungĐông
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia. Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do.
Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (North American Free Trade Agreement- NAFTA) là hiệp định thương mại tự do giữa 3 nước Canada, Mỹ và Mexico, ký kết ngày 12 tháng 8, 1992, hiệu lực từ ngày 1 tháng 1, 1994. NAFTA đã được thông quatại quốc hội Mỹ bởi đa số và chỉ có 34 phiếu chống, sau khi cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Colin Powell tuyên bố rằng NAFTA rất cần cho việc bảo đảm an ninh dọc theo biên giới Mexico-Mỹ.
Trong NAFTA có nhiều điều khoản chưa từng được đưa vào các FTA trước đây, chẳng hạn như các điều khoản về vấn đề môi trường và hàm lượng nội địa.
Ngày 10/5/2007, Quốc hội Mỹ đã thông qua thỏa thuận thực hiện "Chính sách thương mại mới của Mỹ", trong đó các nhà đàm phán Mỹ buộc phải đặt vấn đề môi trường và lao động vào trung tâm các cuộc đàm phán thương mại.
Hiện tại, khi bất cứ một hiệp định thương mại tự do (FTA) nào được đưa ra đàm phán, phía Mỹ luôn đưa một điều khoản lao động vào văn bản Hiệp định, trong đó buộc các đối tác phải đồng ý thay đổi pháp luật lao động trong nước sao cho phù hợp với Tuyên bố ILO năm 1998 về Các nguyên tắc cơ bản và các quyền của người lao động tại nơi làm việc.
Các nội dung cơ bản trong phương pháp tiếp cận của Mỹ đối với các cuộc đàm phán là tự do hóa và loại bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ, cũng như hình thành các quy tắc và các quy định liên quan đến thương mại nghề truyền thống cũng như đưa ra các yêu cầu cải cách đối với chính sách quốc gia.
Các nhà đàm phán Mỹ xác định rõ những lĩnh vực mà họ đang có kế hoạch bảo vệ - những lĩnh vực chịu các áp lực chính trị lớn trong nước. Thường xuyên có thể kể đến nhất là ngành công nghiệp đường, sữa, và thiết bị điện tử tiêu dùng. Mỹ cũng từ chối đàm phán những “vùng cấm” như các vấn đề liên quan đến nhập cư, hoặc các dịch vụ việc làm tạm thời.
Mục tiêu của chính sách đàm phán của Mỹ là đạt được một thỏa thuận toàn diện về việc loại bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ, thành lập các phương pháp tiếp cận mới cho các vấn đề lao động, môi trường, đầu tư, cạnh tranh và các quy định đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực công.
Ưu tiên quan trọng đối với Mỹ
Một ưu tiên quan trọng khác đối với Mỹ trong các cuộc đàm phán thương mại là tăng tiếp cận thị trường và tăng đầu tư vào các dịch vụ. Mỹ cũng thường cố gắng đưa các quy tắc tương tự như Hiệp định mua sắm Chính phủ vào trong các quy tắc của FTA mà Mỹ đang đàm phán nhằm đảm bảo các công ty Mỹ sẽ không bị phân biệt đối xử khi tiếp cận các hợp đồng mua sắm công của các nước đối tác.
Mỹ cũng thường đưa vấn đề môi trường vào việc đàm phán các FTA và mong muốn các vấn đề như nạn phá rừng, đánh bắt thủy sản quá mức… được giải quyết và kiểm soát. Một số vấn đề về môi trường (như khai thác và buôn bán gỗ bất hợp pháp) đã được đưa vào Hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ với Peru.
Nguồn: https://ustr.gov – TV
Từ khóa: Mỹ, việc đàm phán, FTA






















