JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcEU: Quy tắc cạnh tranh mới đối với ngành nông nghiệp

EU: Quy tắc cạnh tranh mới đối với ngành nông nghiệp

law-EU

Chính sách nông nghiệp và chính sách cạnh tranh đều được quy định trong hiến pháp của EU - Hiệp ước về chức năng hoạt động của Liên minh châu Âu (TFEU). Tuy nhiên, những chính sách này đôi khi chồng chéo về mục đích.

Trong chính sách nông nghiệp chung của mình, mục tiêu của EU là tăng thu nhập của nông dân, ổn định thị trường, đảm bảo sự sẵn có của nguồn cung và hàng hóa đạt tiêu chuẩn với giá cả hợp lý. TFEU cung cấp nền tảng chung cho thị trường nông nghiệp, trong đó bao gồm các quy định đặc biệt về cạnh tranh, sự phối hợp bắt buộc giữa các tổ chức nông nghiệp của các quốc gia trong liên minh và thị trường khu vực rộng lớn.

Để đạt được những mục tiêu của mình, EU đã áp dụng các nguyên tắc đặc biệt cho phép các nhà sản xuất nông nghiệp EU hợp tác với nhau theo cách thức không được sử dung trong những lĩnh vực khác. Do đó, chính sách nông nghiệp của EU là duy nhất, phức tạp, bao gồm các nguyên tắc đặc biệt áp dụng đối với ngành nông nghiệp bên cạnh các quy định chung về cạnh tranh của EU.

Ngành nông nghiệp và thực phẩm chiếm 7% lực lượng lao động và tạo ra 6% tổng sản phẩm nội địa của châu Âu. EU đồng thời là vừa khu vực xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp lớn nhất thế giới, cụ thể kim ngạch như sau: Argentina và Brazil (21 tỷ €); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc và Ấn Độ (16 tỷ €); các nước đang phát triển vùng châu Phi, Caribe và Nam Phi (14 tỷ €) và Bắc Mỹ (11 tỷ €).

Nền tảng:

Theo Điều 4 của TFEU, EU chia sẻ thẩm quyền về chính sách nông nghiệp với 28 nước thành viên. Điều 39 của TFEU đặt ra các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung như sau:

• Tăng năng suất nông nghiệp bằng cách thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và bảo đảm phát triển hợp lý sản xuất nông nghiệp với sử dụng tối ưu các yếu tố sản xuất đầu vào đặc biệt là lao động.

• Đảm bảo tiêu chuẩn sống công bằng cho các cộng đồng nông nghiệp, đặc biệt bằng cách tăng thu nhập của người nông dân.

• Giữ ổn định thị trường.

• Đảm bảo sự sẵn có của nguồn cung.

• Đảm bảo hàng hóa đạt tiêu chuẩn và giá cả hợp lý.

Và TFEU trao quyền rộng rãi để thực hiện những mục tiêu này.

Điều 42 của TFEU ủy quyền cho Hội đồng liên minh và Quốc hội EU xác định mức độ các quy tắc cạnh tranh áp dụng đối với việc sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp có tính đến các mục tiêu của chính sách nông nghiệp chung. Theo quy định này, năm 2013 EU thông qua Quyết định 1308/2013 thành lập một tổ chức chung của thị trường nông sản (Quy định CMO), có hiệu lực vào năm 2014.

Quy định CMO:

Quy định CMO cung cấp một số quy tắc chung và các quy tắc loại trừ về cạnh tranh trong lĩnh vực nông nghiệp. Vào tháng Giêng năm 2015, Ủy ban châu Âu công bố dự thảo hướng dẫn về việc áp dụng quy tắc loại trừ về vi phạm cạnh tranh đối với dầu ô liu, thịt bò, thịt bê và lĩnh vực cây trồng. Ủy ban châu Âu dự định sẽ thông qua chính thức Quy định CMO trong quý IV năm 2015.

Quy định CMO bao gồm 232 điều, khá dài và phức tạp. Các quy định chống độc quyền được quy định tại chương II và IV. Chương II bao gồm các quy định về mô hình tổ chức của các nhà sản xuất và hiệp hội (gọi chung là tổ chức sản xuất), bao gồm cả các tổ chức chi nhánh, khác nhau về mức độ yêu cầu công bố thông tin, số liệu thị trường, dự báo sản lượng, giá cả, cách thức phối hợp cung ứng sản phẩm ra thị trường, tìm hiểu thị trường xuất khẩu tiềm năng và các biện pháp hạn chế sử dụng động thực vật cần bảo tồn. Chương IV đề cập đến các nguyên tắc loại trừ áp dụng cho lĩnh vực nông nghiệp trong quy định cạnh tranh chung của EU.

Nguyên tắc loại trừ chung:

Quy định CMO áp dụng nguyên tắc loại trừ đối với tất cả các sản phẩm nông nghiệp thuộc phạm vi của CMO trong 02 trường hợp:

• Khoản (1) (i) Điều 209 Quy định CMO miễn trừ khoản (1) Điều 101 của TFEU nếu hành vì đó là cần thiết cho việc đạt được các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung. Việc loại trừ điều này được giải thích là phù hợp với các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung.

• Theo khoản (1) (ii) Điều 209 Quy chế CMO, khoản (1) Điều 101 của TFEU không áp dụng đối với các quyết định và tiêu chuẩn thực hành của nông dân, các hiệp hội nông nghiệp hay tổ chức sản xuất nông nghiệp được công nhận hoặc các cơ sở có hoạt động lưu trữ, xử lý, chế biến sản phẩm nông nghiệp trừ khi các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung đang gặp rủi ro - không nhất thiết là tất cả các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung đang bị đe dọa thì mới được áp dụng quy định này.

Do đó, điều khoản loại trừ được áp dụng trong một phạm vi rộng nhưng để áp dụng điều khoản loại trừ thứ 2 đòi hỏi những điều kiện nghiêm ngặt hơn. Việc áp dụng các quy định này dựa trên đánh giá của nhà sản xuất mà không cần phải có quyết định hoặc ủy quyền của cơ quan có liên quan.

Một số trường hợp loại trừ cụ thể

Điều 169, 170 và 171 của Quy định CMO quy định áp dụng điều khoản loại trừ đối với các sản phẩm dầu, thịt bò và thịt bê ô liu và các loại cây trồng nhất định. Các điều khoản này cho phép bán hàng thông qua các tổ chức nhà sản xuất nhằm tăng cường vị thế của người sản xuất trong mối quan hệ với các nhà thu mua ở hạ nguồn sản xuất với điều kiện các hoạt động thu mua này tạo ra hiệu quả đáng kể thông qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung.

Để đảm bảo sự phù hợp với các mục tiêu cung ứng sản phẩm trên thị trường, các tổ chức sản xuất phải theo đuổi một cách hiệu quả chiến lược thương mại. Trong trường hợp này, họ thường đàm phán và thiết lập tất cả các yếu tố liên quan đến hợp đồng cung cấp, bao gồm cả giá, khối lượng và các điều khoản khác như thông số kỹ thuật, chất lượng, thời gian, giao nhận, thời gian và thủ tục thanh toán và các vấn đề phát sinh bất khả kháng. Chiến lược thương mại của các tổ chức sản xuất có thể dẫn đến những thỏa thuận về kế hoạch sản xuất và trao đổi thông tin thương mại nhạy cảm.

Một số điều kiện phải được thỏa mãn để có thể áp dụng quy tắc loại trừ:

• Loại trừ chính thức - tổ chức sản xuất phải được công nhận chính thức bởi cơ quan quốc gia theo khoản (1) Điều 152 hoặc Điều 156 của Quy định CMO.

• Các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung - tổ chức sản xuất nông nghiệp phải theo đuổi một hoặc nhiều hơn các mục tiêu chung, có sản phẩm của các đơn vị thành viên/ hội viên trên thị trường hoặc chi phí sản xuất ở mức tối ưu. Một tổ chức sản xuất chỉ tập trung cung cấp sản phẩm trên thị trường và theo đuổi mục tiêu tối ưu hóa chi phí sản xuất là không đủ điều kiện.

• Kiểm tra mức độ hiệu quả - tích hợp các hoạt động phải tạo ra hiệu quả đáng kể để các tổ chức sản xuất có thể đóng góp vào các mục tiêu chính sách nông nghiệp chung. Những thỏa thuận thông qua hợp đồng làm suy yếu cạnh tranh và hạn chế mục tiêu chính sách chung, ví dụ hợp đồng bao gồm các điều khoản cố định giá, làm giảm sản lượng hay thị phần là không được chấp thuận.

• Thị phần - số lượng sản phẩm nhất định (tùy thuộc vào việc đàm phán của một tổ chức sản xuất cụ thể) không được vượt quá 15% tổng sản lượng quốc gia trong vụ mùa trồng trọt hay thịt bò và thịt bê; tỷ lệ này là 20% áp dụng đối với sản phẩm dầu ô liu.

• Hội viên - nhà sản xuất không thể là thành viên của nhiều hơn một tổ chức sản xuất khi tổ chức sản xuất đó đang là đại diện đàm phán cho hợp đồng của họ. Tuy nhiên, nhà sản xuất có thể bán sản phẩm của mình thông qua một tổ chức sản xuất hoặc bán trực tiếp ra thị trường.

• Thông báo - Tổ chức sản xuất phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về khối lượng của các sản phẩm đã thống nhất qua đàm phán.

Ngoài các điều kiện chung, Quy định CMO cũng bao gồm một điều khoản bảo vệ cho phép cơ quan cạnh tranh quốc gia - không phải là Ủy ban châu Âu - quyền quyết định chấp thuận hay phản bác một thỏa thuận riêng lẻ. Quy định này được coi là biện pháp phòng ngừa và không liên quan đến các biện pháp trừng phạt, nhưng nếu một tổ chức sản xuất không tôn trọng quyết định của cơ quan cạnh tranh quốc gia, các thủ tục tố tụng có thể được tiến hành theo quy định về cạnh tranh chung.

So với quy định cạnh tranh quốc gia, điều khoản loại trừ có phạm vi hẹp và chỉ áp dụng đối với hợp đồng hệ thống liên quan đến dầu ô liu, thịt bò và thịt bê và một số loại cây trồng nhất định. Điều khoản này cũng chỉ áp dụng cho hoạt động của các tổ chức sản xuất. Ngoài ra, các điều kiện để áp dụng có thể xem là tương đối dễ dàng để đáp ứng, phương pháp đánh giá và quy định cung cấp thông báo cũng mang lại cho các tổ chức sản xuất nhiều sự chắc chắn hơn.

Quy chế cạnh tranh của EU

Trong khi các quy tắc cạnh tranh riêng biệt trong lĩnh vực nông nghiệp được ưu tiên so với quy chế cạnh tranh chung áp dụng cho cả EU. Điều 101 của TFEU áp dụng nguyên tắc chung cho tất cả các hoạt động kinh tế (quyết định hoặc hợp đồng) được ký kết bởi nhà sản xuất và tổ chức sản xuất.

Quy định của Ủy ban Châu Âu về việc áp dụng khoản (3) Điều 101 của TFEU trong một số loại hợp đồng chuyên môn (Quy định miễn trừ đặc biệt) liên quan đến sự hợp tác giữa các nhà sản xuất nông nghiệp. Ví dụ, một thỏa thuận riêng lẻ hợp tác sản xuất các sản phẩm nông nghiệp và bất kỳ hoạt động chế biến các sản phẩm nông nghiệp thành các sản phẩm khác như giết mổ và cắt thịt, xay xát ngũ cốc hoặc các hoạt động tương tự.

Trong bối cảnh hoạt động của tổ chức sản xuất nông nghiệp, một thỏa thuận chuyên môn có nhiều khả năng liên quan đến chế biến/ gia công sản phẩm nông nghiệp thô thành sản phẩm khác tương tự như các liên doanh sản xuất sản phẩm nông nghiệp thô.

Theo quy định Quy định miễn trừ đặc biệt, khoản (1) Điều 101 của TFEU không áp dụng đối với các hợp đồng nếu thị phần kết hợp của các bên không vượt quá 20% hoặc nếu hợp đồng đó bao gồm bất kỳ hạn chế cứng nhắc nào. Hạn chế cứng nhắc bao gồm ấn định giá, hạn chế sản lượng và phân bổ thị trường hay khách hàng, trừ trường hợp ấn định giá đối với khách hàng trung gian trong bối cảnh phân phối chung thông qua các thỏa thuận riêng lẻ; thiết lập công suất và sản lượng trong hợp đồng hợp tác sản xuất; và thiết lập các mục tiêu doanh số trong hoạt động phân phối chung các sản phẩm đồng sản xuất.

Kết luận

Sự phức tạp về việc áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh áp dụng cho các nhà sản xuất nông nghiệp tại EU là sự pha trộn độc đáo giữa thói quen, các quy tắc cạnh tranh thông thường và các loại trừ cụ thể áp dụng cho ngành nông nghiệp. Các quy định này rất quan trọng cho các công ty tham gia thị trường.

Trước hết, những quy định này áp dụng đối với các nhà sản xuất EU. Tuy nhiên, vì các quy tắc được xây dựng nhằm nâng cao vị thế cho người bán là các nhà sản xuất châu Âu do đó việc nắm rõ các quy định này là hết sức quan trọng cho khách hàng, nhà sản xuất thực phẩm, các nhà bán buôn hay các doanh nghiệp trong ngành khách sạn. Hiểu được những gì các nhà sản xuất nông nghiệp EU có thể và không thể làm theo các quy tắc cạnh tranh tại EU cũng quan trọng và cần thiết cho cả các đối thủ cạnh tranh bên trong và bên ngoài EU.

Theo http://www.nortonrosefulbright.com – HP

Từ khóa: EU, Quy tắc cạnh tranh mới, đối với, ngành nông nghiệp

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008773364
Go to top