
Bối cảnh kinh tế toàn cầu đã không được tốt ngay cả khi trước có Covid-19, nhưng sau đấy là một câu chuyện hoàn toàn mới.
Trong những tháng trước Covid-19, căng thẳng thương mại toàn cầu, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc, cùng với xu hướng dân túy ở nhiều nền kinh tế toàn cầu khác đã gây ra căng thẳng cho thị trường thế giới.
Chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang gia tăng và các rào cản kinh tế khác được dựng lên bắt đầu làm căng thẳng dòng chảy của hàng hóa và dịch vụ, vốn dĩ đang trên một quỹ đạo đi lên kể từ đầu thế kỷ 21, ngoại trừ cuộc khủng hoảng ngắn giai đoạn 2008-2009.
Tăng trưởng thương mại quốc tế đã có dấu hiệu căng thẳng, bắt đầu từ cuối năm 2018. Và sau đó, Covid-19 đã làm trầm trọng thêm các xu hướng này, mặc dù tác động thực sự của nó vẫn chưa được tính đến.
Nhìn về tương lai, Covid-19 đã tạo ra một vài xu hướng khá rõ ràng, và những điều chỉnh hay thay đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu (GSCs) là một trong những xu hướng chính. Đây là kết quả từ sự mong manh của các GSC, tại đó các công ty đa quốc gia phải đối mặt với cú sốc về nguồn cung, sau đó là cú sốc về nhu cầu, dẫn đến những suy nghĩ về chuỗi cung ứng “tự lực”, “nguồn cung ứng đa cấp”, và “gần nhà”.
Các GSC đã được tối ưu hóa cho mô hình “Just-in-time”, giúp giảm chi phí vận hành cho các doanh nghiệp, nhưng nó được dựa trên giả định về mạng lưới vận chuyển, quy định và kinh doanh luôn hoạt động, và nó đã bị cuộc khủng hoảng Covid-19 chỉ ra những hạn chế.
Khi đại dịch diễn ra ở Trung Quốc, “công xưởng của thế giới”, sự gián đoạn của công xưởng này đã làm thay đổi nhận thức ở tất cả các cấp độ của GSCs.
Tình hình hiện tại sẽ dẫn đến một vài điều chỉnh hoặc thay đổi trong GSCs. Một số trong những xu hướng này có thể kể đến như sau.
Đầu tiên, đa dạng hóa chuỗi cung ứng để giảm sự phụ thuộc/liên quan với cơ sở sản xuất của Trung Quốc. Thứ hai, các trung tâm hậu cần khu vực sẽ tái xuất hiện nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào một nguồn duy nhất, và để thiết lập một chuỗi cung ứng linh hoạt và thích ứng.
Thứ ba, vai trò của người nhân công sẽ trở lại, và sẽ đóng vai trò chính trong việc tái cân bằng chuỗi cung ứng trong cuộc khủng hoảng này, và có thể vượt hơn thế nữa. Thứ tư, việc chuyển đổi sang một mô hình chuỗi cung ứng mới sẽ được củng cố bằng việc số hóa nhanh chóng và toàn bộ các thủ tục đi kèm với thương mại toàn cầu.
Thứ năm, các hoạt động sản xuất mới như in 3-D có thể được sử dụng ở quy mô lớn hơn. Thứ sáu, các đơn vị sản xuất đa năng, ví dụ các công ty mỹ phẩm sản xuất thuốc khử trùng tay, có thể tăng số lượng và doanh số.
Trường hợp của Pakistan
Những điều này có ảnh hưởng gì cho Pakistan? Rất nhiều, chỉ khi chính sách quản lý kinh tế và thương mại của quốc gia này hướng đến những thay đổi để tận dụng lợi ích của việc “điều chỉnh” và “chuyển dịch” đã nói ở trên.
Các gợi ý sau đây có thể hữu ích cho Pakistan, nhằm lên kế hoạch trước và có được một phần lợi ích trong việc thay đổi của các GSC.
Đầu tiên, Pakistan cần xây dựng một cơ chế thương mại để có thể nắm bắt diễn biến thị trường toàn cầu theo thời gian thực và xác định các cơ hội phát sinh từ việc thay đổi GSCs. Thứ hai, cần có sự đánh giá thực tế, và chủ động về năng lực cung ứng trong các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ khác nhau của Pakistan, bao gồm cả thời gian đầu (để cung cấp), để khai thác các cơ hội thông qua sự chủ động tiếp thị
Thứ ba, chiến lược và phương thức xúc tiến thương mại phải được thay đổi mạnh mẽ để làm cho hệ thống này trở nên linh hoạt, chủ động và kết nối với các nhà cung ứng (nhà xuất khẩu của Pakistan) và người mua (tại các thị trường mục tiêu). Hệ thống xúc tiến thương mại hiện có còn thiếu các yếu tố này.
Thứ tư, Pakistan có nhiều cơ hội hơn trong xuất khẩu phi truyền thống, ngoài dệt may, da giày và lúa gạo. Các dịch vụ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), tài chính, hậu cần và giáo dục, mang một tiềm năng lớn luôn bị lu mờ bởi các hàng xuất khẩu truyền thống.
Thứ năm, Pakistan có thể là một cơ sở sản xuất thay thế trong một số lĩnh vực. Điều này có thể được thực hiện thông qua Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan (CPEC), chào mời các công ty Trung Quốc thành lập một cơ sở sản xuất tại Pakistan và đưa vào GSCs.
Các ngành kỹ thuật và điện tử nhẹ có một tiềm năng lớn để khởi đầu cho nỗ lực này. Tuy nhiên, một nền tảng hạ tầng logistics được cải thiện sẽ là chìa khóa trong trường hợp này.
Thứ sáu, vì Pakistan có lợi thế về chi phí lao động, mặc dù cần phải phát triển một số kỹ năng, nhưng nước này có lợi thế trong các lĩnh vực sản xuất thâm dụng lao động và đặc biệt là trong các thị trường ngách.
Pakistan là một trường hợp thú vị đối với các nhà phân tích thương mại quốc tế, vì đây là một nền kinh tế khoảng 300 tỷ đô la (theo tính toán của các cuộc tranh luận hiện tại) với xuất khẩu dao động khoảng 20-24 tỷ đô la trong nhiều năm qua.
Càng trở nên thú vị hơn nếu nước này đạt được các chính sách thương mại và khung chính sách thương mại chiến lược được thông qua bởi các chính phủ kế tiếp. Những chính sách này vạch ra những tham vọng chưa được thực hiện bao giờ.
Đây có phải chỉ là sự ảo tưởng hoặc sự chuẩn bị không kỹ càng hay thứ gì đó tương tự? Có lẽ là tất cả những điều đó, ngoài trừ việc quản lý chính sách thương mại truyền thống, theo đó thương mại chỉ được coi là xuất khẩu và xuất khẩu chỉ được coi là dệt may, và dệt may chỉ được coi là trợ cấp.
Tỷ trọng dệt may không quá 10% trong nền kinh tế Pakistan; 90% còn lại có thể mang tiềm năng lớn hơn.
Một điểm khác mà chính sách quản lý thương mại cần phải có là trách nhiệm giải trình hoặc cơ chế giám sát và đánh giá.
Thứ nhất, ở cấp độ chính sách, hoặc khung chiến lược, cần phát triển đảm bảo rằng các chính sách này có ý nghĩa và dựa trên thực tiễn chứ không phải là các biện pháp quan liêu điển hình.
Thứ hai, đội ngũ cố vấn thương mại phải có khả năng chứng minh sự gia tăng xuất khẩu và đầu tư trong chuyên môn của họ. Trên hết, chính sách thương mại cần được thực hiện nghiêm túc tại các cơ quan lập pháp và truyền thông của nhà nước. Người ta nói rằng luôn có một cơ hội trong khủng hoảng. Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, những người không nắm bắt cơ hội một cách thích hợp có thể phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kéo dài đối với tham vọng thương mại quốc tế của họ.
Chính sách thương mại của Pakistan cần phải được nhìn qua lăng kính này, khi các thị trường truyền thống và các kênh xuất khẩu chỉ hoạt động trong thời kỳ tiền Covid-19. Chuỗi cung ứng và thị trường toàn cầu sẽ thay đổi về cơ bản, nó là tác nhân chứ không phải là nạn nhân của sự thay đổi này.
Tác giả là một nhà kinh tế quốc tế.
Nguồn: Tribune.com
Từ khóa: thay đổi, bản chất, chuỗi cung ứng
Các tin khác
- Quan hệ thương mại và đầu tư Việt - Mỹ trong 1/4 thế kỷ - 24/06/2020
- Chứng nhận sản phẩm: ‘Hộ chiếu thương mại’ giúp hàng hóa xuất khẩu vượt rào kỹ thuật - 24/06/2020
- “Đón sóng” từ các FTA - Bán lẻ gia tăng nội lực - 23/06/2020
- Thị trường logistics sẽ sôi động trong thời gian tới - 23/06/2020
- Xu hướng các dòng chảy FDI đến và đi từ Trung Quốc thời kỳ hậu COVID-19 - 22/06/2020






















