JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnThị trườngTrái cây Việt Nam vươn ra thị trường thế giới (Phần 2)

Trái cây Việt Nam vươn ra thị trường thế giới (Phần 2)

nhantuoi

Trái cây Việt Nam hiện đã có mặt ở 60 quốc gia trên thế giới, mức tăng trưởng bình quân là 15%/năm. Để có thể giữ được mức tăng trưởng này, toàn ngành đã đặt mục tiêu xuất khẩu sản phẩm trái cây đa dạng, thay vì chỉ xuất khẩu trái cây tươi, thời gian bảo quản ngắn như hiện nay.

Tạo vùng nguyên liệu chất lượng

Trước những yêu cầu khắt khe của thị trường khó tính, bắt buộc người sản xuất trong nước phải tuân theo các tiêu chí an toàn, vệ sinh thực phẩm do khách hàng quốc tế đưa ra. Thế nhưng, tỷ lệ những người sản xuất theo chất lượng quốc tế hiện còn rất thấp. Thậm chí, có nhiều hợp tác xã, người sản xuất trái cây Việt Nam nỗ lực đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất, nhưng vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong đáp ứng các tiêu chí chất lượng này.

Đơn cử như mặt hàng xoài vốn được thị trường Hàn Quốc ưa chuộng, nhưng để đưa được trái xoài sang Xứ sở Kim chi, người sản xuất phải trải qua khâu chăm sóc kỳ công.

Theo ông Võ Việt Hưng, Giám đốc Hợp tác xã xoài Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Hợp tác xã xoài Mỹ Xương có liên kết sản xuất cung ứng trái xoài tươi cho doanh nghiệp xuất khẩu xoài đi thị trường Hàn Quốc. Để trái xoài có thể đến với người Hàn Quốc thật không dễ dàng. Trái xoài Cát Chu vốn có vỏ dày, độ ngọt vừa phải, thời gian bảo quản dài hơn trái xoài cát Hòa Lộc, nhưng trong lúc chăm sóc, nếu bao trái không cẩn thận, chỉ cần có một vết đen trên cuống xoài thì doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không lựa chọn. Những sản phẩm mất nhiều công chăm sóc này chỉ có thể tiêu thụ tại thị trường nội địa với giá thấp hơn, vì mẫu mã không đẹp mắt, dù chất lượng không đổi.

Riêng mặt hàng chuối Fhola và trái thanh long, việc thâm nhập thị trường Nhật Bản cũng không đơn giản.

Ông Nguyễn Đình Mười, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Vina T&T cho biết, trái thanh long muốn vào Nhật Bản cần sục qua nước muối để loại bỏ những dư lượng bảo vệ thực vật, không được sử dụng các công nghệ xử lý, chiếu xạ khác. Công nghệ này xem ra đơn giản nhưng không thể giữ được trái thanh long tươi lâu trong thời gian nửa tháng để đến được thị trường Nhật Bản. Chuối Fhola cũng được áp dụng cách sơ chế bảo quản này và phải đáp ứng hơn 140 tiêu chí về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Trước những yêu cầu về sơ chế, bảo quản đối với trái cây xuất khẩu sang các thị trường khó tính, ông Nguyễn Đình Mười cho rằng doanh nghiệp phải trực tiếp đầu tư vào các vùng nguyên liệu, nâng cao kỹ thuật sản xuất và chăm sóc vườn cây cho người sản xuất để tạo ra sản phẩm thật chất lượng, lúc đó mới có hy vọng áp dụng những yêu cầu về bảo quản trái cây của thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia… Đây là việc làm tưởng đơn giản mà lại quá khó khăn đối với sản phẩm trái cây tươi.

Hiện nay, cả nước có không nhiều doanh nghiệp lớn sẵn sàng đầu tư vào vùng nguyên liệu trái cây chất lượng, phục vụ cho xuất khẩu và chế biến trong nước. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp đi đầu như Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai, với tổng diện tích vùng nguyên liệu trái cây là 30.000ha, Công ty cổ phần Lavifood với tổng diện tích vùng nguyên liệu trái cây là 10.000ha, trong tương lai sẽ mở rộng lên 30.000ha.

Từ những doanh nghiệp đi đầu, ngành trái cây Việt Nam có thể xây dựng được vùng nguyên liệu chất lượng, vượt qua những rào cản về yêu cầu bảo quản trái cây của thị trường khó tính, đáp ứng các tiêu chí xuất khẩu hiện nay./.

Giải pháp phát triển trái cây thành ngành hàng chiến lược

Càng vươn ra thị trường thế giới, hợp tác thương mại với nhiều quốc gia khác, ngành sản xuất và xuất khẩu trái cây Việt càng đòi hỏi một chiến lược phát triển bền vững, một quy chuẩn chất lượng để vừa có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, vừa giữ vững vị trí tại thị trường nội địa.

Phát triển thành ngành hàng chiến lược

Trong định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trái cây được coi là một trong 9 ngành hàng chủ lực bên cạnh các ngành hàng thủy sản, lúa gạo, hạt điều, chế biến và xuất khẩu gỗ, đồ gỗ, cà phê, cao su, tiêu. Ngành hàng trái cây là một trong 3 thế mạnh của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cũng là xu hướng chuyển đổi diện tích sản xuất của khu vực này.

Theo thống kê của Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), giai đoạn từ 2015 đến tháng 8/2019, diện tích cây ăn trái của khu vực phía Nam đạt khoảng 600.000ha. Tổng sản lượng đạt 6,6 triệu tấn, chiếm 67% sản lượng trái cây của cả nước, trong đó có 14 loại cây ăn trái có diện tích trồng hơn 10.000ha như xoài, chuối, thanh long, sầu riêng, cam, bưởi, nhãn, dứa, chôm chôm, mít, bơ, mãng cầu…

Riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích sản xuất cây ăn trái đạt 350.000ha. Theo kế hoạch, diện tích cây ăn trái của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 sẽ tăng thêm 330.000ha, đạt 680.000ha.

Để có thể phát triển diện tích sản xuất này, Cục Trồng trọt cũng đã có kế hoạch phối hợp với ngành nông nghiệp các địa phương, Trung tâm khuyến nông các tỉnh thúc đẩy cải tạo các vườn tạp trái cây, dừa, đa dạng hóa hệ thống canh tác cây ăn trái, kết hợp trồng xen các loại cây ăn trái khác dưới tán như xoài xen xây cảnh, dừa xen ca cao…

Là địa phương điển hình trong phát triển ngành hàng trái cây, tỉnh Đồng Tháp đã có những giải pháp cụ thể trong việc thúc đẩy ngành hàng này.

Ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho biết tại Đồng Tháp, chuỗi giá trị các ngành hàng chủ lực như trái cây đã được hình thành và phát huy hiệu quả.

Cụ thể, năm 2018, giá trị sản xuất ngành hàng xoài Đồng Tháp ước đạt 1.630 tỷ đồng, tăng 65 tỷ đồng so với năm 2017. Đồng Tháp đã thực hiện liên kết tiêu thụ trong nước được 1.559 tấn xoài, xuất khẩu 74 tấn. Ngoài ra, tỉnh Đồng Tháp còn xây dựng thương hiệu và thúc đẩy phát triển trái quýt hồng Lai Vung, nhãn Ido Châu Thành…

Để xúc tiến quá trình này, tỉnh Đồng Tháp cũng đã tạo điều kiện cho các nhóm nông dân sản xuất cùng ngành hình thành nên các hội quán. Đây là tiền đề hình thành nên các hợp tác xã, tạo nền tảng cho mối liên kết chuỗi giá trị sau này.

Ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết để có thể chủ động thích ứng với những thay đổi của thị trường và điều kiện tự nhiên, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy hoạch dựa trên các biến động về nguồn nước, tính thích nghi về đất đai, phát triển bền vững thành 3 vùng. Đó là vùng thượng, vùng giữa và vùng ven biển, xoay trục chiến lược của ngành nông nghiệp thành thủy sản, trái cây và cuối cùng là lúa gạo.

Đẩy mạnh liên kết chuỗi

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội rau quả Việt Nam, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất cây ăn trái nhỏ lẻ, phân tán, gây khó khăn trong việc cơ giới hóa. Đồng thời, trái cây phục vụ cho chế biến, xuất khẩu, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu sang thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản phải đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng do thị trường đặt ra như GlobalGAP… Tuy nhiên, diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế lại khiếm tốn, khoảng 10% diện tích của toàn vùng.

Hơn nữa, tiêu chí sản xuất khắt khe nhưng kênh kết nối giữa các đơn vị sản xuất trái cây theo tiêu chuẩn GlobalGAP với doanh nghiệp chế biến các sản phẩm đạt tiêu chuẩn này lại lỏng lẻo, chưa gặp nhau để có thể thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ. Số còn lại chạy theo số lượng, sản xuất dễ dãi nên khó thực hiện liên kết để cung ứng cho chế biến và xuất khẩu.

Do đó, ông Đặng Phúc Nguyên nhấn mạnh ngành trái cây muốn trở thành một ngành hàng chủ lực thì các kênh phải “gặp nhau” mới phát huy thế mạnh của từng bên. Trái cây chất lượng phát huy được giá trị, sản phẩm chất lượng tìm được doanh nghiệp phù hợp để thẳng bước ra thị trường, thay vì những hàng hóa chất lượng và doanh nghiệp đang cần lại “đi trên hai đường thẳng song song” như hiện nay.

Thêm vào đó, hiện nay cả nước có 150 nhà máy chế biến trái cây, trong đó, có 18 nhà máy chế biến sâu. Tuy nhiên, số lượng nhà máy có công suất lớn lại không nhiều. Dù vậy, sản lượng trái cây của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng chưa đáp ứng được hết công suất hoạt động của các nhà máy này.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện chỉ có 30% sản lượng trái cây được đưa vào chế biến, xuất khẩu, số còn lại chủ yếu xuất khẩu tươi và tiêu thụ trong nước. Khi được tiêu thụ tươi, thời gian bảo quản trái cây ngắn, làm tỷ lệ hao hụt cao và giảm giá trị mặt hàng.

Theo ông Nguyễn Như Hiến, Trưởng Phòng cây lâu năm, Văn phòng Cục trồng trọt phía Nam, ngành sản xuất và chế biến trái cây phải tổ chức lại sản xuất và liên kết, các doanh nghiệp cũng cần đổi mới công nghệ chế biến. Như vậy, mới phát huy hết hiệu quả của từng khâu như sản xuất giống, sản xuất trái cây tươi, chế biến và tiêu thụ.

Đó là chưa kể đến khâu xây dựng thương hiệu cho từng khâu và mở rộng thị trường cho các sản phẩm của ngành trái cây. Ngành nông nghiệp cũng đặt mục tiêu cho trái cây Việt Nam đến năm 2030 là tổ chức lại sản xuất 100% diện tích trái cây thành những vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và các tiêu chuẩn các quốc gia khó tính yêu cầu, truy xuất nguồn gốc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Đồng thời, bộ phận xúc tiến thương mại và tìm kiếm thị trường trong nước có sự phối hợp chặt chẽ với tham tán thương mại các nước để tìm hiểu lịch thời vụ tại các nước sở tại. Từ đó, người sản xuất trong nước có thêm thông tin để điều chỉnh thời vụ sản xuất bằng giải pháp rải vụ, tránh sản xuất trùng lịch thời vụ của các nước, gây ra tình trạng thừa hàng, khó tiêu thụ, khó xuất khẩu.

Khi những mắt xích trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ trái cây được thực hiện tốt từng khâu, mối liên kết chuỗi hình thành và phát triển chặt chẽ, ngành hàng trái cây Việt Nam mới đi vào sản xuất và tiêu thụ ổn định, người sản xuất cũng có động lực đưa ngành trái cây đi lên./.

Nguồn: TTXVN/Vietnam+

Từ khóa: trái cây Việt Nam, vươn ra, thị trường thế giới, phần 2

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008736157
Go to top