
Trái cây Việt Nam hiện đã có mặt ở 60 quốc gia trên thế giới, mức tăng trưởng bình quân là 15%/năm. Để có thể giữ được mức tăng trưởng này, toàn ngành đã đặt mục tiêu xuất khẩu sản phẩm trái cây đa dạng, thay vì chỉ xuất khẩu trái cây tươi, thời gian bảo quản ngắn như hiện nay.
Áp dụng công nghệ chế biến sâu
Theo kết quả khảo sát người tiêu dùng nội địa và người tiêu dùng nước ngoài, nhiều ý kiến cho rằng trái cây tươi có vị tươi ngon, nhưng trái cây chế biến cũng có hương vị riêng, có thể sử dụng lâu hơn, bảo quản đơn giản và phù hợp với những sự kiện lễ tết, ngày hội lớn…
Ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Vinamit cho biết trong những dịp lễ Giáng sinh, dịp Tết Nguyên đán, những ngày hội thể thao thế giới và khu vực châu Á, hầu hết người tiêu dùng đều lựa chọn sản phẩm trái cây chế biến để sử dụng. Đây chính là lý do và cũng là động lực để ngành trái cây tiếp tục đầu tư công nghệ chế biến sâu các sản phẩm trái cây Việt Nam.
Theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong số các loại trái cây xuất khẩu ra thị trường thế giới, thanh long chiếm hơn 50% giá trị xuất khẩu. Mặc dù cây thanh long được trồng ở 20 quốc gia trên thế giới nhưng Việt Nam vẫn chiếm diện tích cao nhất, đạt 49.000ha. Thanh long Việt Nam hiện đã có mặt tại 40 quốc gia khắp các châu lục, riêng thị trường Trung Quốc chiếm 80% sản lượng xuất khẩu tươi. Khi Việt Nam có một loại trái cây chiếm số lượng lớn như vậy, bài toán đặt ra là làm sao để không bị rơi vào “ngõ cụt” khi chỉ đi vào một thị trường với số lượng lớn.
Ông Nguyễn Lâm Viên cho rằng hiện công nghệ chế biến trái thanh long nói riêng và các loại trái cây nói chung không còn là vấn đề khó đối với các doanh nghiệp đầu tư chế biến trái cây. Công ty Vinamit đã thực hiện chế biến đa dạng các sản phẩm từ trái thanh long như thanh long sấy lạnh, sấy dẻo, sấy chân không, sữa chua sấy thanh long… Hầu hết các sản phẩm chế biến này đều thuận lợi khi ra thị trường thế giới và được người tiêu dùng ưa chuộng, lựa chọn trong tiêu dùng hằng ngày.
Ngoài sản phẩm thanh long chế biến đa dạng, các loại trái cây khác cũng đã được các doanh nghiệp đưa vào chế biến sâu như sấy dẻo, sấy muối ớt, sấy lạnh đối với các loại trái cây như: mận, mãng cầu, nho, ổi, xoài, chuối, mít, sầu riêng, khoai môn…
Đồng thời, các loại trái cây này cũng được chế biến thành các loại nước trái cây để phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng. Bằng cách chế biến này, nguồn nguyên liệu trái cây của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và nguồn nguyên liệu trái cây cả nước nói chung có thể được tiêu thụ tốt khi vào chính vụ, không rơi vào cảnh được mùa, mất giá như trước đây.
Tăng cường quảng bá hình ảnh
Theo đánh giá của các chuyên gia, trái cây Việt Nam đã có mặt ở 60 thị trường trên thế giới nhưng việc được cấp phép nhập khẩu chỉ mới là giai đoạn đầu của mục tiêu phát triển ngành. Bởi lẽ, dù được cấp phép nhập khẩu nhưng nếu không có hoạt động quảng bá hình ảnh, xúc tiến thương mại các sản phẩm đến người tiêu dùng thì lượng tiêu thụ vẫn không được như mong muốn.
Đơn cử, trái cây Mỹ tiến vào các thị trường khác, trong đó có Việt Nam, đều được người tiêu dùng lựa chọn và tiêu thụ rất tốt. Khâu quảng bá hình ảnh, chất lượng gây ấn tượng sâu sắc đối với người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới. Ví dụ riêng với trái việt quất, các nhà khoa học và doanh nghiệp xuất khẩu trái cây Mỹ đã thực hiện đến 42 nghiên cứu khoa học về lợi ích cho sức khỏe khi dùng loại trái này.
Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trái cây Việt Nam cũng phải thừa nhận cách làm này vừa thu hút thị hiếu người tiêu dùng, vừa giúp nâng giá trị sản phẩm. Trong khi đó, hiện Việt Nam cũng đã xuất khẩu được các loại trái cây tươi sang Mỹ như thanh long, vải, xoài… nhưng lại thiếu các công trình nghiên cứu về tác dụng bổ dưỡng của các loại trái này. Như vậy có thể thấy, khi chưa có những nghiên cứu khoa học đi kèm, khâu quảng bá hình ảnh trái cây Việt Nam còn vướng mắc chưa thể tháo gỡ.
Theo Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), trong giai đoạn 2016-2021, thị trường rau củ quả của thế giới có tốc độ tăng trưởng gần 2,9%. Đồng thời, dân số thế giới tăng thêm 2,5 tỷ người trong giai đoạn 2011-2020. Do đó, nhu cầu tiêu thụ rau quả, trái cây còn tiếp tục tăng trưởng.
Trên thị trường thế giới, thị trường rau quả chiếm hơn 59% trong nhóm thực phẩm tươi sống toàn cầu. Nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trường thế giới tăng 3,6%/năm trong khi khả năng tăng trưởng sản xuất chỉ 2,6% năm… Chính vì vậy, ngành chế biến, xuất khẩu trái cây Việt Nam còn nhiều cơ hội để phát triển ra thị trường thế giới nếu được quảng bá hình ảnh và xúc tiến thương mại tốt.
Đại diện Cục chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng sự tăng trưởng của tiêu dùng thế giới sẽ tạo điều kiện để trái cây Việt Nam tăng trưởng.
Vì vậy, ngoài việc tăng cường đầu tư đổi mới thiết bị chế biến sâu trái cây như quả đông lạnh, đóng hộp, chiên sấy, nước quả tự nhiên, nước quả cô đặc, đông lạnh..., các địa phương sản xuất trái cây khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học có những bài nghiên cứu các thành phần có trong từng loại trái cây, công dụng của các thành phần này đối với sức khỏe con người, thực hiện công bố các bài nghiên cứu trên các phương tiện truyền thông. Đây là cơ sở thuyết phục nhất để làm nền tảng cho quảng bá hình ảnh trái cây Việt Nam tại thị trường nội địa, lẫn thị trường nước ngoài.
Khi càng có nhiều bài nghiên cứu công bố tác dụng tích cực của các loại trái cây Việt Nam đối với sức khỏe, việc mở rộng thêm thị trường mới cho trái cây Việt Nam sẽ không còn khó khăn./.
Xây dựng vùng nguyên liệu vững chắc
Khi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệu lực, ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và ngành chế biến, xuất khẩu trái cây nói riêng sẽ gặp thế cạnh tranh lớn từ các quốc gia khác trên thế giới. Do đó, vấn đề đặt ra là ngành trái cây Việt Nam phải có một nền tảng vững chắc để thúc đẩy toàn ngành giữ vị thế xuất khẩu như hiện nay. Cụ thể, việc xây dựng vùng nguyên liệu tập trung sẽ giúp cho khâu thu mua, chế biến, xuất khẩu đạt hiệu quả cao hơn.
Còn nhiều trở lực
Bà Nguyễn Hữu Hồng Minh, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT) đánh giá các FTA có hiệu lực sẽ mang lại cho ngành nông nghiệp Việt Nam nhiều lợi ích. Cụ thể, các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam thuận lợi đi vào các thị trường “khó tính” như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia... với thuế nhập khẩu giảm dần từ 10% về 0% theo từng giai đoạn.
Tuy nhiên, các FTA cũng có mặt trái cho nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam. Đó là các sản phẩm nông nghiệp của nước ngoài cũng thuận lợi đi vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu bằng 0%. Trong khi đó, Việt Nam chưa có một hàng rào kỹ thuật vững chắc để sàng lọc sản phẩm. Hầu như tất cả sản phẩm của các quốc gia thuộc hiệu lực của FTA đều có thể tiến vào thị trường Việt Nam một cách dễ dàng.
Tổ chức Horticulture Innovation Australia (Tổ chức Đổi mới trồng trọt Australia) thống kê tính đến tháng 9/2019, Australia đã xuất khẩu sang Việt Nam khoảng 4.000 tấn cam Navel. Ngoài cam, Australia còn xuất sang Việt Nam 2 loại cherry và quýt.
Không riêng trái cây Australia, trái cây của Mỹ cũng bắt đầu đổ vào thị trường Việt Nam và có mặt ở nhiều phân khúc. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng năm 2019, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 188 triệu USD trị giá các loại rau củ, trái cây từ Mỹ như cherry, lê, nho, táo, việt quất… Ngoài ra, Việt Nam còn nhập từ các quốc gia khác như Thái Lan, Trung Quốc, tăng từ 40-50% so với cùng kỳ năm 2018.
Để vào được thị trường Australia và Nhật Bản, trái cây Việt Nam phải chiếu xạ để loại trừ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các chất nguy hại. Thế nhưng, hiện nay Việt Nam chỉ mới có 1 nhà máy chiếu xạ cho trái cây tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, để xuất khẩu sang các thị trường khó tính này, trái cây Việt phải đi hết một vòng Việt Nam mới có thể đặt “chân” ra nước ngoài.
Trong khi trái cây từ nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam dễ dàng thì trái cây đi vào các thị trường khác lại vướng nhiều quy định ngặt nghèo
“Còn tại những thị trường khó tính, nội tại vốn đã có hàng rào kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm kiểm soát lượng hàng hóa từ quốc gia khác tiến vào thị trường này. Do đó, dù FTA có hiệu lực thì chính họ cũng đã có phương tiện để bảo hộ nền sản xuất trong nước và thị trường nội địa. Đơn cử, trái chuối Fhola muốn vào với thị trường Nhật Bản phải đáp ứng được 145 tiêu chí về dư lượng chất bảo vệ thực vật, còn đối với gạo phải là 270 tiêu chí,” Chủ tịch AFT, bà Nguyễn Hữu Hồng Minh cho biết.
Còn tiếp …
Nguồn: TTXVN/Vietnam+
Từ khóa: trái cây, Việt Nam, vươn ra, thị trường thế giới, phần 1
Các tin khác
- Gạo Việt Nam tìm cơ hội trong khó khăn - 23/09/2019
- Doanh nghiệp ngành in cần làm gì trước cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung - 19/09/2019
- Bàn giải pháp ứng phó việc hạn chế nhập khẩu hương nhang của Ấn Độ - 17/09/2019
- Xuất khẩu dệt may: Bao giờ cơ hội chuyển hóa thành giá trị? - 16/09/2019
- Bước tiến mới để gỡ 'thẻ vàng' - 16/09/2019






















