Tác động từ cuộc xung đột có thể gây nhiều ảnh hưởng trên toàn thế giới trong nhiều năm tới.
Ít ai ngờ xung đột Nga-Ukraine lại kéo dài như vậy. Nhưng bây giờ, 11 tháng sau khi xảy ra, cuộc xung đột vẫn tiếp tục định hình các mối quan hệ chính trị, kinh tế và thương mại. Rõ ràng là hậu quả của xung đột không chỉ giới hạn ở khu vực mà còn mang tính toàn cầu và lâu dài.
Vào quý 2 năm 2022, do hành động xung đột với Ukraine, Nga đã gặp phải nhiều biến động trong thương mại với hầu hết các nước trên thế giới. Nhiều dữ liệu gần đây cho thấy sự xuất hiện của các mô hình thương mại mới.
Kim ngạch xuất khẩu sang hàng hóa thị trường Nga có sự sụt giảm mạnh so với các năm trước, với hầu hết các nước đối tác. Xu hướng này không chỉ xảy ra ở những nước có nền kinh tế phát triển đã áp đặt lệnh trừng phạt, mà còn liên quan đến nhiều nền kinh tế mới nổi. Theo ước lượng ban đầu, xuất khẩu toàn cầu sang thị trường Nga trung bình giảm khoảng 50% và tỷ lệ này đã giảm nhẹ kể từ tháng Sáu. Ba quốc gia góp phần làm giảm tỷ lệ này nhiều nhất - bằng cách tăng cường xuất khẩu sang Nga - là Trung Quốc đại lục, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ.

Số liệu cho thấy kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Nga của các nước trên thế giới đã tăng vào cuối năm 2022. Nguyên nhân chủ yếu có thể do việc tăng giá dầu, khí đốt và than tăng. Tuy nhiên xuất khẩu của Nga sang một số nước cũng có sự tăng đột biến, cụ thể nhóm tăng nhập khẩu từ là Trung Quốc đại lục; Brazil; Việt Nam; Thổ Nhĩ Kỳ; Xéc-bi-a; và quan trọng nhất là Ấn Độ. Ấn Độ ghi nhận thương mại tăng hơn 100% mỗi tháng so với cùng kỳ năm ngoái, kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu.

Việc Ấn Độ nhập khẩu hàng hóa từ Nga đã phần nào giúp Nga chống chọi với suy thoái kinh tế toàn cầu và đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng vào những tháng cuối năm 2022, so với cùng kỳ 2021. Trên thực tế, mức độ tăng trưởng nhập khẩu hàng hóa từ Nga qua từng tháng của Ấn Độ là tín hiệu cho thấy có sự thay đổi lớn trong quan hệ thương mại giữa các nền kinh tế lớn nhất thế giới trong năm vừa qua.
Khủng hoảng nguồn cung năng lượng ở châu Âu
Các nước phương Tây đã đáp trả việc Nga xung đột với Ukraine bằng cách áp đặt nhiều biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga, bao gồm ban hành các lệnh hạn chế xuất khẩu và nhập khẩu. Liên minh châu Âu (EU) đã áp dụng hàng loạt gói trừng phạt nhằm chống lại Nga kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu diễn ra. Gói trừng phạt thứ 6 được thông qua vào tháng 6 năm 2022 cấm “các hành động mua, nhập khẩu hoặc chuyển dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ từ Nga sang EU”. Lệnh cấm nhập khẩu dầu thô đã được áp dụng kể từ ngày 5 tháng 12 năm 2022 và lệnh cấm các sản phẩm dầu mỏ tinh chế sẽ có hiệu lực vào ngày 5 tháng 2 năm 2023. Gói trừng phạt này đã được tất cả các quốc gia thành viên EU thông qua, ngoại trừ việc tạm thời nhập khẩu đường ống cho các quốc gia không giáp biển như Hungary, Slovakia và Cộng hòa Séc – phần lớn phụ thuộc vào nguồn cung cấp dầu của Nga và có ít lựa chọn khác để thay thế.
Khi lệnh cấm vận dầu thô đang đến gần, các nước châu Âu đã chuẩn bị cho việc ngừng nhận nguồn cung cấp dầu từ Nga. Một số nước thành viên - bao gồm cả Ba Lan, quốc gia ban đầu tuyên bố sẽ không nhập bất kỳ sản phẩm khí đốt hoặc dầu thô nào từ Nga, ngay cả trước khi gói trừng phạt thứ 6 có hiệu lực - gần đây đã thừa nhận rằng, họ cần phải sử dụng nguồn cung cấp từ đường ống dầu Druzhba. Ý cũng đã yêu cầu một ngoại lệ là nhà máy lọc dầu Inhalation Science Sweden AB (ISAB), hiện chỉ sử dụng ngôn ngữ Nga và đang gặp sự cố khi sử dụng các nguồn cung khác.
Do đó, một số quốc gia châu Âu phụ thuộc nhiều vào dầu thô của Nga như Bungari, Cộng hòa Séc, Hungary, Ý, Ba Lan và Slovakia - vẫn nhập khẩu từ Nga trong quý 2 và quý 3 năm 2022 để đáp ứng nhu cầu trong nước vào mùa đông. Các quốc gia khác như Áo, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vương quốc Anh đã ngừng nhập khẩu từ giữa năm 2022.
Tuy nhiên, trong khi các nước châu Âu đang tự ban hành lệnh cấm nhập khẩu dầu thô từ Nga, những nước khác trên thị trường toàn cầu như Trung Quốc đại lục và Ấn Độ đã tận dụng tình hình này để mua được dầu với giá rẻ hơn của Nga. Theo Hệ thống phân tích thương mại toàn cầu (GTAS) từ S&P Global Market Intelligence, khối lượng nhập khẩu dầu thô từ Nga của Trung Quốc trong quý 2 và quý 3 năm 2022 đã tăng 20% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu dầu thô từ Nga của Ấn Độ đạt tốc độ tăng trưởng kỷ lục 680,7% vào năm ngoái.
EU cũng đưa ra mức giá trần đối với sản phẩm dầu thô, dầu mỏ và dầu thu được từ khoáng chất bi-tum xuất khẩu từ Nga là 60 USD/thùng, được áp dụng kể từ ngày 5 tháng 12 năm 2022. Mức trần mà châu Âu đưa ra dự kiến sẽ làm giảm doanh thu từ các sản phẩm dầu của Nga và làm dịu giá dầu trên thị trường toàn cầu.
Ngoài các sản phẩm dầu mỏ, lệnh cấm nhập khẩu năng lượng từ Nga của EU cũng đang ảnh hưởng đến khí đốt của Nga và điều này tác động đáng kể đến các quốc gia vùng Baltic. Mùa đông này, các quốc gia vùng Baltic đang phụ thuộc chủ yếu vào trạm đầu mối Klaipeda, một kho nổi và là trạm chuyển đổi khí tự nhiên tại cảng biển Klaipeda, Litva. Tuy nhiên, một số lựa chọn thay thế khác hiện đang được xem xét. Trạm chuyển đổi khí tự nhiên Inkoo ở Phần Lan đang trong giai đoạn chạy thử, đã chuyển đổi chuyến hàng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) đầu tiên vào cuối tháng 12 năm 2022. Các dự án xây dựng trạm LNG khác mới đang được bắt đầu ở Paldiski, Estonia và Skulte, Latvia; đều nhằm mục đích cung cấp khí đốt cho các quốc gia vùng Baltic.
Xung đột Nga-Ukraine làm gián đoạn các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần tác động đến thị trường than trên toàn cầu. Theo GTAS của S&P Global Market Intelligence, Nga là nước xuất khẩu than lớn thứ ba vào năm 2021, sau Australia và Indonesia. Ba quốc gia này cộng lại chiếm 60% sản lượng than xuất khẩu toàn cầu năm 2021 và bỏ xa tất cả các quốc gia khác.
Tình trạng thiếu dầu và khí đốt hiện nay đã làm tăng nhu cầu về than trên khắp châu Âu, mặc dù EU đã cam kết giảm ít nhất 55% lượng khí thải CO₂ vào năm 2030. Hiện tại, một số quốc gia Tây Âu đã mở cửa lại các nhà máy điện than. Điều này làm tăng thêm nhu cầu tại các quốc gia Trung Âu và Đông Âu, nơi mà nhiên liệu hóa thạch rắn chưa bị loại bỏ và tiếp tục phụ thuộc nhiều vào các nhà máy than để sản xuất điện và sưởi ấm.
Tất cả những điều trên dẫn tới câu hỏi đặt ra là: Liệu châu Âu có tồn tại được trong mùa đông này - và mùa đông vài năm tới - nếu không có than của Nga?
Đầu tiên, để trả lời câu hỏi này cần phân biệt giữa than hơi và than nhiệt. Nga là nhà xuất khẩu lớn về than nhiệt - hơn 50% tổng nguồn cung than nhiệt cho châu Âu đến từ Nga. Trên thực tế, hơn 90% tổng lượng than tại Síp, Litva, Hy Lạp và Romania được nhập khẩu từ Nga. Trong khi đó, hơn 50% tổng lượng than tại Bulgaria, Ba Lan, Đan Mạch, Croatia, Ireland và Ý được nhập khẩu từ Nga.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là các quốc gia này có mức độ phụ thuộc khác nhau. Ví dụ, đối với Síp và Hy Lạp, Nga là nhà cung cấp than chính, nhưng các quốc gia này sử dụng rất ít than so với một số quốc gia khác (tính theo tổng khối lượng, đơn vị tính bằng tấn) và nếu cần thiết, họ có thể tự xoay xở khi không có than.
Bốn quốc gia có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu than nhập khẩu từ Nga là Ba Lan, Bulgaria, Litva và Ireland. Ba Lan ngừng nhập khẩu than từ Nga khi kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu diễn ra. Đó là một sai lầm về chiến lược bởi vì các thành viên EU khác vẫn tiếp tục nhập khẩu than từ Nga để đảm bảo có đủ nguồn cung cho mùa đông. Vào tháng 10 và tháng 11 năm 2022, giá than ở Ba Lan cao hơn gấp 300% so với một năm trước. Giá đã giảm vào đầu năm nay, nhưng vẫn cao gần gấp đôi so với cùng kỳ tháng 1 năm 2022.
Tất cả các quốc gia này đang cố gắng tìm kiếm các nhà cung cấp than mới. Bungari đang muốn nhập khẩu than từ Nam Phi và Mỹ; Síp thì từ Colombia; Đan Mạch thì từ Australia và Indonesia. Ý cũng đang xem xét việc nhập khẩu than từ Colombia, Úc, Mỹ và Nam Phi và Ba Lan đang cố gắng mua than từ Colombia, Nam Phi và Úc. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề liên quan đến nguồn cung và cơ sở hạ tầng. Số lượng các nhà cung cấp than có hạn và họ không thể gia tăng sản lượng nhanh chóng. Do đó, nhu cầu hiện nay cao hơn so với thời điểm trước đại dịch; và nhu cầu đó có thể sẽ không được đáp ứng đầy đủ.
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến thị trường than châu Âu là sản xuất năng lượng trong nước ở một số quốc gia, kể cả Đức, sẽ không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong mùa đông này. Nguyên nhân một phần vì gần đây, chính phủ đã đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân. Bây giờ, Đức có thể sẽ phải sử dụng than thay thế cho khí đốt để sưởi ấm, làm gia tăng thêm sự mất cân đối giữa cung và cầu.
Tác động đối với khu vực Nam Kavkaz và Trung Á
Xung đột Nga-Ukraine đã tác động đến thị trường năng lượng toàn cầu và dẫn đến một số thay đổi trong hoạt động thương mại ở châu Âu, nhưng còn tại các nước láng giềng ở khu vực Nam Kavkaz và Trung Á thì sao? Phần phân tích sẽ tập trung vào hai quốc gia trong khu vực - cụ thể là Azerbaijan và Kazakhstan - nhưng các quốc gia khác như Georgia và Uzbekistan cũng đang chịu ảnh hưởng từ xung đột Nga-Ukraine, hoặc thông qua việc tiếp xúc gián tiếp với các lệnh trừng phạt hoặc tình hình kinh tế ngày càng tồi tệ ở Châu Âu – hậu quả từ cuộc xung đột.
Azerbaijan vẫn nằm trong top 10 nền kinh tế phụ thuộc nhiều nhất vào ngành năng lượng trên thế giới. Theo GTAS của S&P Global Market Intelligence năm 2021, dầu thô và khí đốt tự nhiên chiếm khoảng 84% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này (theo giá trị). Gần đây, Azerbaijan đã bắt đầu nhập khẩu khí đốt tự nhiên từ tập đoàn năng lượng Gazprom của Nga để sử dụng trong nước, theo một thỏa thuận được ký vào ngày 15 tháng 11 năm 2022. Động thái này đã gây ra tranh cãi khi EU có thể vẫn sử dụng khí đốt của Nga thông qua Azerbaijan.
Nga là nguồn nhập khẩu hàng đầu của Azeri, tiếp theo là Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc đại lục. Lượng nhập khẩu từ Nga chiếm khoảng 50% tổng lượng khí đốt trong nước tại ba quốc gia này, từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2022.
Azerbaijan, Nga, Ấn Độ và Iran đều tham gia vào sáng kiến phát triển Hành lang Vận tải quốc tế Bắc-Nam (INSTC). Khung pháp lý cho hành lang này được xây dựng vào năm 2000 bởi một thỏa thuận ba bên giữa Ấn Độ, Iran và Nga, sau đó Azerbaijan đã tham gia vào năm 2005. Mục đích của thỏa thuận này là phát triển một hành lang dài 7.200 km, kết hợp vận tải đường bộ, đường sắt và đường hàng hải, tạo thành một tuyến đường thương mại giữa Ấn Độ và Nga, đi qua Trung Á và Iran.
Vào tháng 9 năm 2022, Azerbaijan, Nga và Iran đã ký một tuyên bố hợp tác, trong đó đặt mục tiêu vào năm 2030 sẽ khai thác toàn bộ tiềm năng của hành lang. Khi đó, 30 triệu tấn hàng hóa sẽ được vận chuyển qua ba quốc gia này mỗi năm. Dự án hợp tác bao gồm việc xây dựng 146 km đường sắt từ Azerbaijan đến Iran, do Nga và Azerbaijan tài trợ.
Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế của châu Âu và giá cả hàng hóa leo thang cũng đã tác động đến nền kinh tế của Kazakhstan. Mặt khác, giá năng lượng tăng cao lại có lợi cho Kazakhstan. Vào năm 2021, Kazakhstan đã xuất khẩu khoảng 31,5 triệu tấn dầu thô sang EU và trở thành nhà cung cấp dầu thô lớn thứ bảy cho các nước EU. Do giá cả tăng cao vào năm 2022, tổng giá trị nhập khẩu của EU từ Kazakhstan đã tăng 53,5% từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2022 so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng đầu năm ngoái, khoảng 85% kim ngạch xuất khẩu của Kazakhstan sang EU (theo giá trị) đến từ sản phẩm dầu thô.
Tuyến đường bộ thương mại chính giữa Trung Quốc đại lục và châu Âu đi qua Nga, cũng bị ảnh hưởng bởi lệnh trừng phạt đối với Nga. Do đó, Tuyến đường vận tải quốc tế xuyên Caspi (TITR), còn được gọi là “Hành lang giữa” ngày càng trở nên quan trọng. Về mặt địa lý, hành lang này là con đường thương mại ngắn nhất nối liền phía Tây Trung Quốc và châu Âu. Hành lang bắt đầu ở Đông Nam Á, đi qua Kazakhstan, Biển Caspi, Azerbaijan, Georgia và Thổ Nhĩ Kỳ và kết thúc ở khu vực Trung hoặc Nam châu Âu.
Ngay sau khi Nga xung đột với Ukraine, Azerbaijan, Georgia, Kazakhstan và Thổ Nhĩ Kỳ đã ký một tuyên bố nhằm thúc đẩy dòng chảy thương mại qua khu vực này. Theo Hiệp hội TITR, một số sáng kiến được thực hiện trong năm 2022 đã giúp tăng khối lượng hàng hóa được vận chuyển qua Trung Á và Kavkaz. Sáng kiến này gồm có: xây dựng một chuyến tàu container từ Trung Quốc đại lục đến Trung Âu bắt đầu chạy từ ngày 10 tháng 5 năm 2022, sử dụng Hành lang giữa và phát triển một tuyến vận tải mới cho tàu trung chuyển giữa các cảng ở Georgia và Romania. Ngoài ra, các nước Trung Á đang đẩy mạnh đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại trên tuyến thương mại xuyên Caspi.
Xuất khẩu ngũ cốc từ Ukraine
Vào tháng 7 năm 2022, Nga, Ukraine và Thổ Nhĩ Kỳ đã ký một thỏa thuận hành lang an toàn ở Biển Đen, cho phép nối lại hoạt động xuất khẩu ngũ cốc và phân bón từ ba cảng chính của Ukraine: Chornomorsk, Odesa và cảng Pivdennyi ở Yuzhne đi qua Biển Đen. Liên Hợp Quốc (LHQ) làm trung gian cho thỏa thuận và tuyên bố rằng “sáng kiến sẽ có hiệu lực trong 120 ngày kể từ ngày tất cả các bên ký và có thể tự động gia hạn trong cùng khoảng thời gian đó, trừ khi một trong các bên thông báo cho bên kia về ý định chấm dứt hoặc sửa đổi sáng kiến.”
Vào cuối tháng 10, chính phủ Nga đã viết thư cho Liên Hợp Quốc, nêu rõ rằng, “bắt đầu từ hôm nay, thỏa thuận cho phép xuất khẩu ngũ cốc và phân bón của Ukraine sẽ bị đình vô thời hạn”. một thời gian ngắn sau khi gửi đi thông báo này, Nga đã quay lại thỏa thuận. Vào ngày 17 tháng 11 năm 2022, thỏa thuận đã được gia hạn thêm 120 ngày, xoa dịu nỗi lo của thị trường về thiếu nguồn cung và làm giảm giá nông sản.
Thỏa thuận hành lang an toàn ở Biển Đen đã tạo điều kiện cho hơn 1.000 chuyến hàng tại thời điểm đó và cho phép Ukraine xuất khẩu khoảng 10 triệu tấn ngũ cốc và thực phẩm khác. Theo S&P Global Market Intelligence–Commodities at Sea, tổng số lô hàng nông sản được vận chuyển từ Ukraine, trên các tàu hơn 10.000 tấn, đạt 1,3 triệu tấn vào tháng 8 năm 2022, 3,2 triệu tấn vào tháng 9 năm 2022, 3,8 triệu tấn vào tháng 10 năm 2022 và 1,4 triệu tấn vào tháng 11 năm 2022. Ngoài ra, theo thống kê của LHQ, thông qua Sáng kiến Ngũ cốc Biển Đen, khối lượng nông sản được vận chuyển bằng tàu có trọng tải dưới 10.000 tấn đạt mức tăng 1,54 triệu tấn trong khoảng thời gian tháng 8 đến tháng 11 năm 2022.
Như vậy, Ukraine đã vận chuyển tổng khối lượng ngũ cốc từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2022 là 11,2 triệu tấn. Các mặt hàng chính được vận chuyển là ngô (4,7 triệu tấn), lúa mì (3 triệu tấn), cải dầu (871.000 tấn) và lúa mạch (529.000 tấn).
Gần một nửa khối lượng này đã đưa tới các nước có thu nhập cao. Nga đã nêu lên lo ngại rằng, phần lớn các dòng chảy hàng hóa lại không dành cho các quốc gia dễ bị mất an ninh lương thực. Trong số 9,6 triệu tấn được vận chuyển bằng các tàu lớn, phần lớn là đi đến Địa Trung Hải (4,3 triệu tấn), tiếp theo là Tây Bắc Âu (2 triệu tấn), Bắc Phi (1 triệu tấn), Nam Trung Quốc (464.000 tấn) và Trung Đông (389.000 tấn).
Bên cạnh đó, Ủy ban châu Âu cho rằng xuất khẩu nông sản từ Ukraine nên dựa vào các tuyến đường bộ. Janusz Wojciechowski, Ủy viên về Nông nghiệp của EU tuyên bố rằng, khi Nga nỗ lực phong tỏa hành lang Biển Đen, EU nên tập trung vào việc phát triển các tuyến đường bộ cho hàng hóa xuất khẩu của Ukraine. Các hành lang đường bộ qua Ba Lan và Romania đều có thể được sử dụng và kể từ tháng 3 năm 2022, 12,5 triệu tấn nông sản đã được xuất khẩu từ Ukraine bằng đường bộ.
Trở ngại chính đối với vận chuyển nông sản bằng đường bộ từ Ukraine là sự khác biệt trong hệ thống đường sắt. Hệ thống đường sắt Ukraine có khổ đường khác với các nước láng giềng châu Âu như Ba Lan, vì vậy ngũ cốc xuất khẩu từ Ukraine phải chuyển từ đoàn tàu này sang đoàn tàu khác, nếu không thì phải vận chuyển trong các bao lớn và không có nhiều các điểm trung chuyển hoặc kho bãi tại biên giới Ukraine. Tuy nhiên, đến cuối tháng 11 năm 2022, Rail Cargo Group đã vận chuyển hơn 1 triệu tấn ngũ cốc từ Ukraine đến Trung và Nam Âu. Các nhà nhập khẩu chính loại ngũ cốc này là Hungary và Đức, tiếp theo là Ý và Áo.
Wojciechowski cho rằng cần phải tăng cường phát triển các giải pháp vận tải đường bộ để xuất khẩu ngũ cốc từ Ukraine. Đầu tư của EU cũng có thể giúp xây dựng một đường ống xuất khẩu dầu thực vật từ Ukraine sang Ba Lan.
Nguồn cung cấp thực phẩm và năng lượng rất quan trọng đối với hòa bình khu vực
Mười một tháng sau khi bắt đầu, cuộc xung đột Nga - Ukraine vẫn đang định hình các mối quan hệ chính trị, kinh tế và thương mại, dẫn đến sự xuất hiện của các mô hình thương mại mới không chỉ ở châu Âu mà còn trên toàn cầu. Vì cuộc xung đột vẫn đang diễn ra và chúng ta không thể đoán trước được khi nào nó sẽ kết thúc, nên chúng ta không thể đưa ra bất kỳ khoảng thời gian nào phương Tây sẽ ngưng áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với Nga, cũng như không thể biết liệu Nga có thể khôi phục quan hệ thương mại với các nước phương Tây hay không.
Các hạn chế xuất khẩu và nhập khẩu hiện tại, bao gồm các lệnh trừng phạt đối với các sản phẩm năng lượng của Nga, đang có tác động rất lớn đến thị trường châu Âu trong mùa đông này và có thể sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến thị trường năng lượng toàn cầu trong dài hạn. Giờ đây, các nước châu Âu đang phải vật lộn để lấp đầy khoảng trống do bị cắt giảm nguồn cung từ Nga. Một số nước đã buộc phải sử dụng than trở lại, trong khi những nước khác đang đầu tư vào các kho cảng LNG mới và các trạm chuyển đổi khí.
Xung đột Nga - Ukraine cũng dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung lương thực, đặc biệt là ở các quốc gia tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng việc mở các tuyến vận chuyển ngũ cốc mới sẽ giúp ngũ cốc của Ukraine đến được đúng nơi, chủ yếu là ở các nước châu Phi. Điều này sẽ rất quan trọng trong việc hạn chế các làn sóng di cư và bất ổn xã hội.
Nguồn: Treasury & Risk
Từ khóa: xung đột Nga – Ukraine, khủng hoảng, năng lượng, lương thực, nông sản, dầu mỏ, EU, thương mại
Các tin khác
- Tiềm năng của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương - 06/03/2023
- Một năm chiến tranh ở Ukraine, điều gì đã tác động đến thương mại toàn cầu? - 06/03/2023
- “Sân chơi mới” với thuế tối thiểu toàn cầu - Bài 1: Chấm dứt hành vi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài - 06/03/2023
- "Bước đi" mới của Trung Quốc trong chính sách ngoại giao - 06/03/2023
- Nước Anh sẽ có một Brexit rất khác? - 06/03/2023






















