Khung kinh tế Ấn Độ - Thái Bình Dương (IPEF) có thành công trong việc định hình ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc tại Á châu hay không vẫn là câu hỏi không lời giải
Trong chuyến thăm đến Tokyo vào đầu năm nay, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã chính thức khởi động IPEF vì thịnh vượng cùng với 12 đối tác tham gia ban đầu. Khác biệt với một thỏa thuận thương mại truyền thống, IPEF là một khung thảo luận với độ linh hoạt cao gồm 4 trụ cột (thương mại công bằng và bền vững, chuỗi cung ứng bền vững, hạ tầng và năng lượng sạch, thuế và chống tham nhũng).
Từ góc độ chiến lược, IPEF là lời tuyên bố của phía Mỹ về việc họ sẽ sàng kết nối mạnh mẽ hơn với nền kinh tế khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Khung chính sách đã nêu được xem là công cụ giúp xứ cờ hoa nâng cao hình ảnh cũng như thay đổi tầm ảnh hưởng kinh tế của Trung Hoa trong khu vực. Tuy nhiên, với sự bất ổn về vai trò lãnh đạo đàm phán của Mỹ, thiếu những lợi ích rõ ràng cũng như cách tiếp cận phân tán, IPEF dường như lại cho thấy những nỗ lực bị giới hạn của xứ cờ hoa trong việc kiềm chế ảnh hưởng của xứ Trung tại Ấn Độ - Thái Bình Dương
Nâng cao độ tin cậy của Hoa Kỳ đối với nền kinh tế khu vực
Đầu tiên, IPEF đã góp phần nâng cao vai trò của Hoa Kỳ trong mắt các đối tác với tư cách là lời đáp của nền kinh tế lớn nhất thế giới đối với mong mỏi của họ về việc nước Mỹ tiếp tục phối hợp và dẫn dắt nền kinh tế khu vực. Từ việc rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) năm 2017 đến hướng trọng tâm chú ý đến cuộc khủng hoảng Ukraine, Hoa Kỳ dường như cho thấy họ đang mất tập trung vào chiến lược xoay trục sang Ấn Độ - Thái Bình Dương.
Những sự kiện nêu trên thực chất đã gây suy yếu sự tín nhiệm của Mỹ tại khu vực, khiến nhiều đối tác phật lòng. Ví dụ, với việc rút khỏi TPP, Mỹ đã đẩy Nhật Bản vào thế phải nhận lãnh vai trò dẫn dắt những thành viên khác ký kết và phê chuẩn của một phiên bản khác của TPP là CPTPP. Theo kết quả khảo sát về “Những quốc gia có thái độ thân thiện với Hoa Kỳ”, tỷ lệ thiện cảm đối với Mỹ tại Nhật là 57% - giảm 15 điểm so với cuộc khảo sát trước đây dưới thời Tổng thống Obama. Có thể nói, sự suy giảm đã nêu là minh chứng cho thấy người Nhật Bản đang mất niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.
IPEF là minh chứng cho thấy Hoa Kỳ đang cố gắng hướng tập trung và tái tạo dựng vai trò lãnh đạo kinh tế trong khu vực, qua đó nâng cao độ tin cậy trong mắt cộng đồng đối tác bao gồm xứ hoa anh đào.
“Thiết lập lại” cấu trúc kinh tế khu vực?
IPEF cho thấy kế hoạch của Mỹ nhằm đối đầu với tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của xứ Trung tại Ấn Độ - Thái Bình Dương. Một vài bình luận trước đây đã chỉ trích Washington về việc nước này không tạo ra bất kỳ ảnh hưởng kinh tế nào tại khu vực, qua đó nhường sân chơi cho Trung Quốc. Theo khảo sát tại Đông Nam Á, xứ Trung được nhìn nhận như là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu tại khu vực từ năm 2019 (chiếm 75% tổng số khảo sát) cao hơn nhiều so với Hoa Kỳ (với chiếm 8.9% tổng khảo sát) vào năm 2022.
Mục tiêu hướng tới của IPEF chính là thiết lập lại vai trò lãnh đạo kinh tế của Hoa Kỳ, đồng thời giúp Washington xây dựng khung định hướng chính sách tại Ấn Độ - Thái Bình Dương. Cụ thể, nước Mỹ muốn thay đổi sự thống trị về mô hình kinh tế Trung Quốc trong khu vực. Ông Jake Sullivan, Cố vấn an ninh của chính quyền Biden nhận định “Hoa Kỳ tin rằng chúng ra cần một mô thức mới qua đó hỗ trợ các bên giải quyết những thách thức trong tương lai, đó là những gì IPEF sẽ hướng đến và tạo dựng”.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy Mỹ và đồng minh đang đi sau xứ Trung trong thiết lập mạng lưới liên kết kinh tế cấp độ khu vực. Vào thập kỷ trước, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của ASEAN, chiếm 20% tổng giao thương toàn khối. Do vậy, vẫn còn nhiều việc Hoa Kỳ cần làm để giành lại uy tín trong vùng đặc biệt trong bối cảnh IPEF đang đối mặt nhiều nghi ngờ.
Tái xây dựng sự liên kết lãnh đạo với các đồng minh Thái Bình Dương và nhà đầu tư tư nhân
Thay vì tạo ra sự đối đầu trực tiếp với Trung Quốc, thông qua IPEF, Hoa Kỳ dường như đang muốn tạo dựng vai trò chủ đạo trong một số lĩnh vực cụ thể (năng lượng sạch, hệ thống thuế, bảo mật dữ liệu,…) nhằm thiết lập hệ thống chuẩn mực mới, khác biệt mô thức của Trung Quốc. Bà Evan Feigenbaum, Phó chủ tịch Viện nghiên cứu Carniege về hòa bình quốc tế nhấn mạnh Hoa Kỳ cần vượt Trung Quốc trong tranh giành ảnh hưởng tại khu vực thông qua tăng cường đầu tư, thiết lập hệ thống tiêu chuẩn, quy định.
Tuy nhiên, điều thất vọng là từ khi từ bỏ TPP, Mỹ luôn đúng ngoài hầu hết các hiệp định kinh tế trong vùng – những nền tảng giúp thiết lập hệ thống quy tắc tại Ấn Độ - Thái Bình Dương bao gồm CPTPP, RCEP, và Thỏa thuận đối tác kinh tế kỹ thuật số (DEPA). Do vậy, để kết nối mạnh hơn đối với nền kinh tế khu vực, Hoa Kỳ cần phối hợp với các đồng minh bào gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc.
Về mặt hạ tầng, Mỹ cần hợp tác với Nhật và Úc nhằm thiết kế những tiêu chuẩn về công trình dựng ví dụ như chứng nhận khung cấu trúc đối với các dự án hạ tầng. Cụ thể, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc đang phối hợp với các quốc gia Nam Thái Bình Dương nhằm phát triển một mạng lưới cáp thông tin dưới biển. Những tiêu chuẩn do Mỹ thiết lập đang dần xuất hiện trong nền kinh tế số. Tháng trước, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Singapore và Đài Loan đã cùng nhau ban hành Tuyên bố về Quy tắc an ninh cá nhân xuyên biên giới trên cơ sở APEC CBPR.
Nhật Bản và Úc thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ đối với IPEF, tuy nhiên, thỏa thuận này dường như không phải là cách thức duy nhất để tạo ra tầm ảnh hưởng tại khu vực. Xứ phù tang thực chất đã và đang gây ảnh hưởng đến hoạt động thương mại đầu tư trong vùng thông qua CPTPP, trong khi đó, Singapore đã thành công trong việc tác động đến giao thương số thông qua việc thiết lập DEPA.
Bên cạnh đó, các thiết chế tư nhân Hoa Kỳ cũng đang tạo ra sự khác biệt trong hoạt động đầu tư tại ASEAN, mặc dù dưới thời Tổng thống Trump, chính quyền Mỹ đã theo đuổi chính sách rút lui chiến lược khỏi Đông Nam Á. Theo Tổng thư ký ASEAN, xứ vờ hoa là nhà đầu tư lớn nhất tại khu vực với tổng vốn 35 tỷ USD, gấp 4 lần nguồn đầu tư từ Trung Quốc. Chính quyền Biden cho thấy họ sẵn sàng chào đón khối tư nhân tham gia IPEF
IPEF đang hỗ trợ xứ cờ hoa đảm nhận vai trò lãnh đạo trong tiến trình kết nối với đồng minh và khối tư nhân về kinh tế đặc biệt trong việc thiết lập hệ thống tiêu chuẩn. Tuy nhiên, xét về định hướng chung, mối liên hệ giữa chính quyền Mỹ với các thiết chế tư nhân là không bền vững.
Yêu cầu cam kết về thực thi quy định chung nhưng lợi ích thu được quá ít ỏi
Mặc dù, Hoa Kỳ nhiều khả năng có thể thúc đẩy việc thiết lập hệ thống quy tắc và tiêu chuẩn chung, có quá ít động lực mà IPEF có thể mang lại, qua đó giúp xứ cờ hoa tác động đến các đối tác. Thỏa thuận đã nêu không ngay lập tức tạo ra những lợi ích hữu hình cho các quốc gia tại Ấn Độ - Thái Bình Dương như vấn đề tiếp cận thị trường hoặc những động lực thúc đẩy khác. Chính quyền Biden khẳng định IPEF tốt hơn so với những thỏa thuận giao thương truyền thống vì mang trong mình bản chất linh hoạt. Tuy nhiên, cho tới hiện tại, ngoại trừ thông tin về bốn trụ cột chính sách cùng danh sách các nước tham gia đàm phán, IPEF thiếu những nội dung chi tiết để khởi động tiến trình thảo luận. Ngay cả những quốc gia ủng hộ IPEF cũng không hiểu rõ về tiêu chí của từng trụ cột vấn đề.
IPEF là biểu tượng cho tham vọng của chính quyền Biden trong việc thúc đẩy mối liên kết kinh tế giữa Mỹ với các nước trong vùng; tuy nhiên tham vọng này lại thiếu một tầm nhìn mang tính bao trùm. Thỏa thuận đã nêu yêu cầu các bên tham gia thay đổi cấu trúc kinh tế nhằm đồng bộ hóa hệ thống các quy định về vấn đề năng lượng sạch, thuế, bảo vệ dữ liệu giữa Mỹ với đối tác tuy nhiên xứ cờ hoa lại từ chối cam kết mở cửa thị trường. Ông James Crabtree từ Viện Quốc rế về nghiên cứu chiến lược Singapore nhận định IPEF là một hiệp định “một chiều”, không có bất kỳ lợi ích nào đối với các nước Đông Nam Á.
Không đề cập đến vấn đề tiếp cận thị trường, IPEF thiếu những sức hút cụ thể nhằm lôi kéo sự tham gia của các quốc gia đang phát triển. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nhận định nhiều thành viên ASEAN quan tâm đến IPEF nhưng khung thỏa thuận đã nêu lại thiếu những lợi ích cụ thể liên quan đến thương mại và đầu tư
Nguy cơ chia rẽ sự phát triển tại khu vực
Tiến trình thảo luận với cách thức đổi mới trên cơ sở 4 trụ cột của IPEF có thể dẫn đến những thách thức không thể lường trước. Một số học giả từ Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quốc tế cho rằng cách tiếp cận phi tập trung với yêu cầu thực thi thấp và lựa chọn linh hoạt của IPEF có thể giúp Mỹ thu hút sự tham gia nhiều quốc gia vào quá trình thảo luận về hiệp định nêu trên. Tuy nhiên, về lâu dài, phương thức đã nêu có khả năng gây chia rẽ sự phát triển kinh tế trong vùng.
Mặc dù chính quyền Biden liên tục nhấn mạnh đến tính thống nhất của ASEAN, chỉ 4 quốc gia thuộc khối gồm Brunei, Malaysia, Singapore, và Việt Nam công khai ủng hộ đàm phán IPEF. Trên nền tảng sự linh hoạt về cấu trúc, kết quả từ quá trình đàm phán hiệp định đã nêu có thể là nhiều hiệp định “quy mô nhỏ” phản ánh lợi ích thống nhất của các bên tham gia thay vì hướng đến sự phát triển của toàn vùng. Thỏa thuận đã nêu cũng có nguy cơ giới hạn dòng chảy thương mại và công nghệ giữa các quốc gia, từ đó khiến khoảng cách phát triển ngày một rộng hơn tại khu vực.
Có thể nói, các thành viên ASEAN tham gia đang dõi theo và chờ đợi những lợi ích mà IPEF có thể mang lại. Có thể nói nguy cơ từ hiệp định khung đã nêu đối với khu vực vẫn còn khá nhỏ trong bối cảnh trong tiến trình đàm phán, một bên tham gia có thể rút lui bất lỳ lúc nào nếu họ thấy lợi ích thu được từ IPEF không được đảm bảo
Nguồn: The Diplomat
Từ khóa: IPEF, ASEAN, Mỹ, Trung Quốc
Các tin khác
- Vai trò của toàn cầu hóa trong việc chấm dứt nạn đói trên thế giới - 29/06/2022
- Đầu tư cho nhân lực - giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhật Bản - 29/06/2022
- Hợp tác Israel-Đông Nam Á: Khi nông nghiệp 'bắt tay' ngoại giao - 29/06/2022
- Tiềm năng lớn thị trường tín chỉ carbon của nông nghiệp Việt Nam - 29/06/2022
- Thách thức đối với giấc mơ xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc của châu Phi - 29/06/2022






















