
Cộng tác viên tờ JURIST- Aditya Rathore và Ashutosh Bajpai - sinh viên trường Đại học Luật quốc gia, Odisha - thảo luận về các vấn đề trong Cơ quan giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Cơ quan phúc thẩm là một phần quan trọng của Hệ thống giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), xét xử phúc thẩm các vụ kiện của Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) bị kháng cáo. Cơ quan phúc thẩm (AB) lý tưởng bao gồm bảy thành viên, trong đó có Chủ tịch là người đứng đầu. Tuy nhiên, vào ngày 10 tháng 12 năm 2019, cơ quan này đã rơi vào tình thế khủng hoảng khi hai trong số ba thành viên còn lại đã kết thúc nhiệm kỳ bốn năm. Trong khuôn khổ bài viết này, các tác giả đi sâu phân tích cuộc khủng hoảng và tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc như vậy, đồng thời xem xét các yếu tố chính trị, kinh tế hoặc xã hội nào đã ảnh hưởng đến những gì đang xảy ra trong cơ chế giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, bài viết cũng sẽ đề cập tới vai trò và mức độ trách nhiệm của chính quyền Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hiện tại trong việc giải quyết khủng hoảng; các giải pháp nào cần được thực hiện như một biện pháp hòa giải để Cơ quan phúc thẩm có thể duy trì hoạt động và đảm bảo sự công bằng của Hệ thống giải quyết tranh chấp WTO.
Uncle Sam’s Bayonet Charge: Vai trò trực diện của Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và chủ nghĩa bảo hộ dưới thời Tổng thống Trump sẽ đổ lỗi cho cuộc khủng hoảng trong Hệ thống giải quyết tranh chấp (DSS) khi Cơ quan phúc thẩm không có đủ số lượng thành viên. Hoa Kỳ đang cố tình ngăn chặn việc bổ nhiệm các thành viên mới vào Cơ quan phúc thẩm (AB). Đại sứ Hoa Kỳ tại WTO tuyên bố rằng Hoa Kỳ không phê chuẩn việc bổ nhiệm người mới vào các vị trí còn trống trong Cơ quan phúc thẩm. Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu tiên điều này xảy ra. Chính quyền Obama trước kia cũng đã chặn việc bổ nhiệm Jennifer Hillman cho nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2011, tuyên bố WTO đã thất bại trong việc bảo vệ lợi ích của Mỹ. Tiếp đó, vào năm 2016, Mỹ đã chặn việc tái bổ nhiệm Seung Wha Chang. Sau đó, vào năm 2018, chính quyền Trump tiếp tục chặn việc tái bổ nhiệm Shri Baboo Chekitan Servasing.
Thật đáng kinh ngạc, Hoa Kỳ dường như đã đóng một vai trò trung tâm trong việc phá hủy DSS và khiến nó bị tê liệt nhưng đồng thời cũng thúc đẩy chính nó trở thành người ủng hộ chính của hệ thống thương mại đa phương. Hoa Kỳ tuyên bố rằng Cơ quan phúc thẩm đã hoạt động theo cách không đảm bảo công bằng và gây bất lợi cho lợi ích của họ.
Luận điểm của Hoa Kỳ: Vấn đề của Cơ quan phúc thẩm là gì?
Hoạt động tư pháp của cơ quan phúc thẩm
Một trong những cáo buộc chính của Hoa Kỳ đối với Cơ quan phúc thẩm là cơ quan này đã vượt quá quyền hạn tài phán của mình, tự tạo ra các luật riêng và sa đà theo hướng “Judicial Activism” (Hoạt động tư pháp đề cập đến các phán quyết tư pháp bị nghi ngờ dựa trên ý kiến cá nhân, thay vì dựa trên luật pháp hiện hành). Theo Hoa Kỳ, AB đang tạo ra các quy tắc mới. Điều này là không phù hợp với quy định "không được làm tăng hoặc giảm các quyền và nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định có liên quan" tại Điều 3.2 của DSU.
Theo Hoa Kỳ, ở đây đã có sự coi thường vai trò của Cơ quan phúc thẩm trong cách tiếp cận của các thẩm phán đối với việc xét xử các tranh chấp và đưa ra các phân tích chủ yếu theo nguyên tắc obiter dicta (lời nhận xét bình luận của thẩm phán không có giá trị bắt buộc). Ví dụ, trong vụ kiện Argentina - Dịch vụ tài chính, các phân tích của AB đã được đưa ra theo dạng obict dicta. Theo đó, những phát hiện của Hội đồng bị đảo ngược và bổ sung một cách không cần thiết bằng cách làm rõ các điều khoản khác của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). Theo Hoa Kỳ, AB không thể hành xử giống như giới hàn lâm và đi chệch khỏi các vấn đề, đưa ra những phân tích khác nhau. Vai trò của hội đồng hay Cơ quan phúc thẩm không phải là để 'tạo ra luật pháp' bên ngoài bối cảnh giải quyết tranh chấp. Hoa Kỳ đã một lần nữa tuyên bố rằng bất kỳ nỗ lực nào của AB nhằm sửa chữa những thiếu sót trong các hiệp định của WTO đều vi phạm Điều 3.2 của DSU, phù hợp với "thẩm quyền độc quyền để đưa ra giải thích" của các Hiệp định thương mại đa phương được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng và Đại Hội đồng.
Vấn đề của các án lệ
Một vấn đề khác được Mỹ đưa ra nhằm chống lại Cơ quan phúc thẩm là việc tạo ra tiền lệ "một cách hợp thức". Tuy nhiên, đây là vấn đề có nhiều mức độ hiểu khác nhau, vì việc "có giá trị thuyết phục" khác với "giá trị ràng buộc", và điều này không xảy ra trong DSS WTO. Các phán quyết được thông qua không phải là tiền lệ ràng buộc áp dụng các vụ tranh chấp tiếp theo trong tương lai, không giống như các lĩnh vực tranh chấp khác trong luật pháp quốc tế. Trong trường hợp các lập luận của phán quyết trong quá khứ có đủ sức thuyết phục để Cơ quan phúc thẩm áp dụng với trường hợp hiện tại, Cơ quan phúc thẩm sẽ bổ sung vào DSS để cải thiện tính bảo mật và dự đoán của hệ thống giao dịch đa phương theo Điều 3.2 của DSU. Hơn nữa, trong vụ kiện Hoa Kỳ - Thép không gỉ (Mexico), Cơ quan phúc thẩm cho rằng các phán quyết chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên trong tranh chấp cụ thể được giải quyết. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các giải thích pháp lý trong các phán quyết đó là vô giá trị hoặc dễ dàng bị bác bỏ bởi DSB, vì các hội đồng nên tuân theo các báo cáo AB được thông qua trước đó nhằm "phát triển một cơ quan pháp lý có tính xuyên suốt và có thể dự đoán được". Dù vậy, các phân tích cũng chỉ có liên quan khi áp dụng vào những trường hợp có các vấn đề tranh chấp tương tự nhau. Hơn nữa, không có bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào được tạo ra đối với DSS trong việc sử dụng giải thích đó mặc dù các giải thích có thể đủ tính thuyết phục. Do đó, xu hướng thông luật như thế không tạo ra nhiều mối lo ngại như Mỹ tuyên bố.
Phản đối về Quy trình làm việc
Trong các Hội nghị Bộ trưởng, Hoa Kỳ đã đưa ra một mối quan tâm riêng về Quy tắc 15 trong Quy trình làm việc của Cơ quan phúc thẩm. Quy tắc này nêu lên rằng một thành viên của Cơ quan phúc thẩm, theo ủy quyền của AB và thông báo cho DSB, có thể hoàn thành việc xử lý bất kỳ kháng cáo nào và vì mục đích đó sẽ được coi là thành viên của AB. Quy trình làm việc được AB soạn thảo có sự tham khảo ý kiến từ Tổng giám đốc WTO và Chủ tịch của DSB, theo Điều 3.9 của DSU. Sự phản đối liên quan đến quan điểm về việc các thành viên không nên đưa ra bất kỳ vụ việc mới nào vì có thể sẽ có những tồn đọng buộc phải làm rõ. Đôi khi, điều này sẽ khiến phán quyết ban hành chậm hơn thời hạn 60 ngày quy định tại Điều 17.5.
Các đề xuất
Theo Deborah Elms, Giám đốc điều hành tại Trung tâm thương mại châu Á, "Titanic đã chạm phải tảng băng trôi và hiện đang dần chìm xuống". Cần phải có những cải tiến lớn kịp thời tại WTO. Hãy nhớ rằng sự hỗn loạn đang diễn ra khá rõ ràng bắt nguồn từ việc chỉ có một Cơ quan phúc thẩm sẽ không đủ giải quyết hết công việc. Hiện nay, chính Cơ quan phúc thẩm đang phải gánh chịu hậu quả của sự hỗn loạn này. Việc bảo toàn Quy tắc trong DSU là cần thiết. Để phá vỡ sự bế tắc hiện tại, các mối quan tâm của Hoa Kỳ phải được đáp ứng để nước này bỏ chặn quy trình bổ nhiệm các thành viên của Cơ quan phúc thẩm. Xuất phát từ quan điểm này, các tác giả sẽ đề xuất một số cải cách nhất định có thể giúp phá vỡ sự bế tắc của Cơ quan phúc thẩm hiện nay. Các đề xuất bao gồm:
Áp dụng các nguyên tắc Walker- David Walker, Đại sứ New Zealand tại WTO, được bổ nhiệm vào tháng 2 năm 2019 bởi Chủ tịch Đại Hội đồng với tư cách là người hỗ trợ và được giao nhiệm vụ cải thiện chức năng của Cơ quan phúc thẩm. Các nguyên tắc mà ông đưa ra được thiết kế theo cách có thể giải quyết tất cả các mối quan tâm mà Hoa Kỳ nêu lên với Cơ quan phúc thẩm. Các nguyên tắc bao gồm: bắt buộc Cơ quan phúc thẩm đưa ra quyết định sau 90 ngày, các thành viên của Cơ quan phúc thẩm chỉ có thể đảm nhiệm vị trí tối đa hai nhiệm kỳ, Cơ quan phúc thẩm chỉ giải quyết những vấn đề được đưa ra bởi các bên tranh chấp và việc dẫn chiếu lại các báo có sẵn là cần thiết nhưng không coi là án lệ. Những Nguyên tắc Walker này sẽ giúp Cơ quan phúc thẩm hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời vẫn tuân thủ các quy tắc như đã được xác định vào năm 1995.
Dựa vào kinh tế và thống kê để quyết định tranh chấp giữa hai bên- Nhiệm vụ của Cơ quan phúc thẩm chỉ giới hạn trong các vấn đề của pháp luật bằng cách thiết lập và xác minh các sự kiện được trình bày bởi các bên. Khi đề cập đến việc giải thích các thuật ngữ kỹ thuật khác nhau như "đối xử kém thuận lợi hơn" (đọc về phần phân biệt đối xử), cơ quan này có toàn quyền giải thích. Nếu chưa xác định được phạm vi hợp lý, cơ quan này có thể vận dụng kinh tế và thống kê để ra quyết định cuối cùng. Điều này đáng được hoan nghênh và các bên trong tranh chấp cũng khó lòng mà phản đối. Điều này đã khiến các phán quyết của Tòa án Tối cao thay đổi quan điểm về việc bảo trì giá bán lẻ từ quy tắc tự nhiên sang quy tắc của tiêu chuẩn lý luận được ủng hộ bởi các lập luận kinh tế.
Thành lập một ủy ban tuân thủ để kiểm toán và giám sát hoạt động của Cơ quan phúc thẩm- Để đảm bảo niềm tin cho các thành viên của WTO trong hoạt động của Cơ quan phúc thẩm, hàng năm, WTO có thể và nên thành lập một ủy ban tuân thủ để kiểm toán hoạt động của cơ quan này. Ủy ban sẽ bao gồm các chủ tịch của tất cả các ủy ban lớn của WTO, gồm Đại hội đồng, Hội đồng thương mại hàng hóa và Cơ quan giải quyết tranh chấp, v.v. Ủy ban sẽ được giao nhiệm vụ đánh giá việc Cơ quan phúc thẩm có đảm bảo theo nguyên tắc không, và nếu không thì phải xử lý thế nào.
Kết luận
Các tác giả muốn nhấn mạnh rằng vấn đề trong Tổ chức Thương mại Thế giới không chỉ gói gọn trong nguyên tắc của DSU mà còn liên quan tới một cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn xuất hiện trong WTO. Các thành viên WTO sẽ mất quyền kháng cáo trước các quyết định của hội đồng WTO nếu cuộc khủng hoảng này không được giải quyết ngay lập tức và điều này sẽ gây nguy hiểm cho tương lai của tổ chức. Nếu Mỹ liên tục chặn các cuộc bổ nhiệm thành viên vào Cơ quan phúc thẩm, thì điều này sẽ dẫn đến việc các quốc gia thành viên của WTO lựa chọn những phương tiện thay thế. Điều này bao gồm việc thông qua các báo cáo của hội đồng và chỉ định một cơ quan khác để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Thành viên có thể chọn không kháng cáo quyết định nào cả hoặc có thể tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách thông qua các báo cáo của hội đồng, tương tự như Canada và EU. Nhìn bề ngoài, điều này có vẻ vẫn hiệu quả và hợp lý, nhưng nếu nhìn sâu hơn thì vấn đề rất đáng quan tâm. WTO được thành lập để giúp dòng chảy thương mại tự do lưu thông và giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, nếu các quốc gia thành viên bắt đầu tìm kiếm các phương pháp khác để giải quyết tranh chấp thì điều này đánh bại lại chính mục tiêu của WTO.
Chừng nào cuộc khủng hoảng này chưa được giải quyết, Mỹ đã - đang và sẽ chuyển từ thương mại đa phương sang đàm phán các thỏa thuận thương mại song phương với một số nước láng giềng và đối tác thương mại như Mexico, Canada, Trung Quốc. Các quốc gia khác cũng đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến các khối thương mại khu vực hoặc đa quốc gia như OBOR, SCO, ASEAN và CPTPP. Điều này báo hiệu cho tương lai ảm đạm của WTO vì tổ chức này có thể sẽ chìm xuống cùng với giấc mơ về một hệ thống thương mại đa phương toàn cầu tự do và công bằng.
*Aditya Rathor và Ashutosh Bajpai sinh viên Luật năm ba tại Đại học Luật Quốc gia, Odisha, Ấn Độ
Nguồn: The Jurist
Từ khóa: WTO, Cơ chế giải quyết tranh chấp, tòa phúc thẩm, khủng hoảng kinh tế
Các tin khác
- Người lao động nhập cư khốn đốn khi các nước ASEAN chống dịch Covid-19 - 23/04/2020
- Cơ hội và thách thức của tôm Việt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 - 23/04/2020
- Ngành phân bón chủ động khai thác cơ hội từ Hiệp định EVFTA - 23/04/2020
- Đại dịch COVID-19: Một góc nhìn kinh tế - 22/04/2020
- Dệt may vào EU - Con đường gian khó - 22/04/2020






















