
Hàn Quốc là một ví dụ điển hình nhất của thế giới về việc hưởng lợi từ thương mại tự do.
Có vẻ Hội đồng tư vấn đã thuyết phục được Tổng thống Mỹ Donald Trump để Trump không vứt Hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc vào “sọt rác”. Bản thân Trump cũng có vẻ còn nhân nhượng Hàn Quốc và chưa thể rút khỏi hiệp định. Trớ trêu là, hơn bất kỳ nước nào, câu chuyện của Hàn Quốc cho thấy việc hủy bỏ hiệp định thật ngớ ngẩn đến chừng nào.
Sự vươn lên của đất nước Hàn Quốc sau chiến tranh là một minh chứng rõ ràng nhất cho thế giới về sức mạnh của thương mại tự do đã đem đến việc làm và sự thịnh vượng. Trở lại thập niên 1960, các nhà kinh tế học rất đau đầu với bài toán làm thế nào để giảm bớt đói nghèo đặc biệt ở những nước mới thành lập thuộc châu Á và châu Phi, những nước vừa thoát khỏi thời kỳ thuộc địa. Lúc đó, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc là khoảng 120 USD, ngang hàng với Kenya và Madagascar.
Nếu nền kinh tế của các nước nghèo tiếp tục gắn liền với nên kinh tế của các nước thực dân cũ trước đây, thì họ sẽ không thể phát triển ngành xuất và các ngành khác cần thiết cho sự phát triển.
Thời điểm đó, xuất hiện một ý tưởng nghe có vẻ hợp lý. Đó là tăng thuế và các rào cản khác lên hàng nhập khẩu để bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước, tạo công ăn việc làm và gia tăng thu nhập. Rất nhiều nhà lãnh đạo của các quốc gia đang phát triển lúc đó - thường là các quốc gia vừa giành được độc lập - một cách tự nhiên lại chú ý vào ý tưởng này. Cách lập luận trên đã ảnh hưởng đến hướng đi của các nước như Ấn Độ, làm các nước này xây dựng chính sách theo hướng kiên quyết chống lại thương mại tự do. Tập hợp các lập luận trên còn được gọi là là “học thuyết phụ thuộc”.
Hàn Quốc lại theo đuổi một hướng đi ngược lại. Thay vì quay lưng với kinh tế thế giới, các nhà làm chính sách của Seoul đã dang rộng cánh tay với toàn cầu. Họ giúp kết nối trực tiếp kinh tế Hàn Quốc vào hệ thống thương mại thế giới, đặt mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu lên hàng đầu.
Về vấn đề này, Hàn Quốc bị ảnh hưởng nhiều từ kinh nghiệm của Nhật Bản. Nhật Bản trước đây đã từng có thời kỳ kinh tế bùng nổ mạnh mẽ do áp dụng mô hình kinh tế tập trung vào hướng ngoại. Nhưng khi Hàn Quốc bắt tay vào kế hoạch này, nước này chỉ mới là một quốc gia non trẻ. Vì vậy, các nhà kinh tế học phát triển không đánh giá cao chiến lược này.
Nhưng, các con số đã nói lên tất cả. Trong năm 1962, GNI bình quân đầu người của Ấn Độ là 90 USD. Đến năm 1990, con số đã gấp 4 lần, lên 380 USD. Trong cùng một khoảng thời gian, GNI trên đầu người của Hàn Quốc lại tăng đến 53 lần, từ 120 USD lên 6.360 USD. Sau năm 1991, Ấn Độ mới bắt đầu thông qua chiến lược phát triển dựa trên thương mại, từ đó, kinh tế Ấn Độ mới bắt đầu tăng trưởng nhanh.
“Học thuyết phụ thuộc” đã thất bại, đơn giản bởi vì các nước nghèo không thể nào tạo ra mức độ nhu cầu tiêu dùng đủ để hỗ trợ cho các ngành công nghiệp mới, cũng như không có lợi thế so sánh để cạnh tranh trên quy mô toàn cầu. Trong rất nhiều trường hợp, các quốc gia thường đi đến việc trợ cấp cho các khu vực này, làm cho nhiều khu vực này hoạt động ko hiệu quả.
Mô hình định hướng thương mại của Hàn Quốc
Mô hình định hướng thương mại của Hàn Quốc lại hoạt động hiệu quả. Mô hình tận dụng được nhu cầu tiêu dùng lớn hơn ở các thị trường nước ngoài, như Mỹ chẳng hạn. Hàn Quốc đã khai thác được lợi thế so sánh của quốc gia trong hệ thống thương mại thế giới. Và lợi thế chính yếu nhất chính là mức lương. Lương thấp đã thu hút đầu tư vào những ngành đòi hỏi nhiều lao động như da giày và đồ chơi, từ đó, tạo ra hàng loạt việc làm cho lao động trong nước. Chiến lược này đã mang về dòng vốn dư dả cho Hàn Quốc, và Hàn Quốc lại tiếp tục sử dụng dòng vốn này để tái đầu tư, phát triển thêm các ngành công nghiệp chất lượng cao như sản xuất chip, màn hình LCD, xe hơi và các sản phẩm khác mà ngày nay thế giới biết đến.
Người Hàn Quốc, chắc chắn rồi, chưa bao giờ là một nước giao dịch tự do thực sự. Họ tìm đủ cách để bảo vệ ngành công nghiệp non yếu trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài. Nhưng ít ra, họ đánh giá cao tầm quan trọng của xuất khẩu. Các công ty Hàn Quốc đã gia tăng được thị phần ở Mỹ kể từ khi Hiệp định thương mại với Mỹ có hiệu lực 5 năm trước. Đó là lý do tại sao tân Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in, người thường ưa chuộng các chính sách kinh kế xã hội chủ nghĩa, cũng phải quyết liệt bảo vệ Hiệp định thương mại tự do với Mỹ.
Không may là, học thuyết phụ thuộc dường như đang ảnh hưởng đến một vài chính sách của chính quyền Mỹ. Các chính sách này đang nhắm vào tăng cường sản xuất trong nước hơn là nhập khẩu từ nước ngoài, thậm chí là phải dùng đến ngân sách để trợ cấp cho các nhà máy. Trên thực tế, các Hiệp định thương mại tự do không phải chỉ đặt các công ty Mỹ dưới sự cạnh tranh của nước ngoài, mà Hiệp định còn mở ra thị trường nước ngoài cho các nhà xuất khẩu Mỹ.
Không sai khi nói tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ vào Hàn Quốc đã giảm kể từ khi Hiệp định thương mại giữa hai nước được ký kết. Nhưng con số giảm của Mỹ vẫn ít hơn số giảm tổng của Hàn Quốc trong giá trị nhập khẩu. Điều đó có nghĩa là, nếu tính tương đối, Hiệp định đã làm thị phần của Mỹ tại Hàn Quốc tăng lên. Thêm vào đó, Mỹ vẫn đang tiếp tục thặng dư với Hàn Quốc về dịch vụ, lĩnh vực thế mạnh của Mỹ. Vì vậy, Khi Tổng thống Trump quyết định phải cứng rắn với Hàn Quốc đến mức nào, thì xin ông hãy nhớ lại quá khứ gần đây với Hàn Quốc, để cân nhắc thiệt hơn.
Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, không phản ánh quan điểm của Ban biên tập Bloomberg LP và Chủ sở hữu Bloomberg.
Nguồn: Bloomberg
Từ khóa: dành cho, Trump, bài học, Hàn Quốc
Các tin khác
- Lim Hng Kiang: ASEAN vẫn phải tiếp tục chương trình đối tác chiến lược dù cho TPP bị thất bại ê chề - 15/09/2017
- Trump mang lại luồng sinh khí mới cho các quốc gia BRICS - 14/09/2017
- RCEP mở ra cơ hội gì cho kinh tế Australia? - 14/09/2017
- Việt Nam tham gia FTA thế hệ mới: Bước ngoặt TPP - 14/09/2017
- Trung Quốc tăng cường hợp tác với Các Tiểu vương quốc ả Rập thống nhất, Ả rập Xê-út về sáng kiến Vành đai và Con đường - 14/09/2017






















