
Nếu các xu hướng địa chính trị được đánh giá theo cách thức các dự báo kinh tế được tính toán hàng quý, thì bối cảnh an ninh toàn cầu sẽ sẽ là một đường thẳng đứng trên trục thời gian và độ phức tạp.
Chỉ trong quý đầu tiên của năm 2024, thế giới đã trải qua nhiều biến động: dư âm của một cuộc chiến ở Ukraine mà không có hồi kết rõ ràng, viễn cảnh một cuộc diệt chủng ở Gaza khơi dậy sự cảm thông trên khắp thế giới; bên cạnh đó các điểm nóng ở Đài Loan và Biển Đông cũng trở thành tâm điểm khi hai khu vực bị cuốn vào các chiến dịch thông tin sai lệch trên cũng như hàng loạt mối đe dọa quân sự. Đối với Đông Nam Á, các diễn biến khác nhau này trên khắp thế giới thách thức những giả định thông thường tại khu vực theo ba cách.
Thứ nhất, khi các cường quốc tranh giành quyền thống trị, bất kỳ sự khác biệt nào trước đây giữa các chương trình nghị sự về kinh tế và an ninh giờ đây đã lu mờ đi đáng kể.
Tất nhiên, vấn đề đã nêu không có gì mới. Sự chứng khoán hóa các mạng lưới kinh tế toàn cầu đã kéo dài hàng thập kỷ với đặc trưng là việc Hoa Kỳ sử dụng các công cụ bao gồm vũ khí hóa bằng đồng đô la, áp dụng biện pháp trừng phạt thương mại, cũng như sử dụng nguồn lực tài chính để đạt được lợi ích địa chính trị. Trên cơ sở đó, sự ép buộc của Trung Quốc đối với Úc và Việt Nam về kinh tế đơn giản là chỉ là học tập theo cách thức mà Hoa Kỳ đã áp dụng.
Không có gì đáng ngạc nhiên, giống như trong nhiều thế kỷ trước, phần lớn sự cạnh tranh nêu trên được thúc đẩy bởi tiến bộ công nghệ. Động thái cấm cửa TikTok của Hoa Kỳ – được lồng ghép vào Đạo luật tăng cường khả năng quân sự của Ukraine, Đài Loan và Israel – là lời nhắc nhở mới nhất rằng ngay cả nguồn cung ứng tài chính không phải lúc nào được đón nhận, đặc biệt nếu chúng có nguồn gốc từ nước ngoài.
Thứ hai, những công nghệ có tính đột phá đang đặt vai trò, trách nhiệm và lòng trung thành của các thực thể tư nhân là ưu tiên hàng đầu. Trái ngược với thông lệ tiêu chuẩn coi các ứng dụng công nghệ quân sự và dân sự là những cuộc thảo luận riêng biệt, sự phân tách này đang trở nên lu mờ.
Ví dụ, cuộc chiến của Nga chống lại Ukraine đã thúc đẩy sự hỗ trợ chưa từng có dành cho Kyiv từ những tập đoàn như Microsoft, Google, Amazon và Clearview AI. Tuy nhiên, điều này cũng làm dấy lên câu hỏi về cách thưc khu vực tư nhân có thể bị lôi kéo vào các cuộc xung đột đang diễn ra với tư cách là người tham gia, đồng thời phải gánh chịu những nghĩa vụ theo luật nhân đạo quốc tế.
Elon Musk dường như đã nhận ra tình thế tiến thoái lưỡng nan này khi từ chối yêu cầu của Ukraine kích hoạt Starlink ở Crimea vì sợ đồng lõa trong việc leo thang xung đột, mặc dù vị tỷ phú đã chấp thuận cung cấp dịch vụ internet vệ tinh cho Ukraine trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.
Câu hỏi đặt ra với các quốc gia bên thứ ba đang phụ thuộc những tập đoàn công nghệ lớn nhằm phục vụ chương trình chuyển đổi kỹ thuật số của riêng họ là làm thế nào để điều hướng mối quan hệ đối tác với các công ty tư nhân khi căng thẳng địa chính trị gia tăng, đặc biệt là nếu những hệ tư tưởng không thống nhất rõ ràng. Bằng cách tăng cường hoạt động kinh doanh ở Ukraine, giám đốc điều hành của Palantir, Alex Karp, đã khẳng định quan điểm của mình về “bảo vệ phương Tây”, đồng thời nhấn mạnh rằng nhân viên công ty nên “đứng về phía phương Tây, biến phương Tây thành một xã hội tốt đẹp hơn”.
Tại Đông Nam Á, nền tảng của Palantir đang được cung cấp độc quyền tại Malaysia, Singapore và Việt Nam bởi công ty FTP Software có trụ sở tại Hà Nội. Các doanh nghiệp khác có thể ít thẳng thắn hơn khi đề cập đến những vấn đề chính trị nhưng những tính toán cuối cùng của họ có thể không phải lúc nào cũng mang tính bất khả tri về yếu tố này ngay cả khi họ hoạt động quốc tế dưới các hình thức quản trị khác nhau. Có vẻ như lợi nhuận trên thực tế luôn tồn tại một lớp vỏ yêu nước.
Thứ ba, các cuộc thảo luận chính sách hiện tại ở Đông Nam Á không giải thích đầy đủ về những thay đổi xuyên suốt nêu trên. Trong khu vực, các chính phủ tỏ ra quyết tâm mở rộng dư địa kinh tế của mình như một phương tiện để củng cố quan hệ quốc tế. Điều này một phần là cần thiết vì Đông Nam Á nằm trong hệ thống thương mại toàn cầu; do đó, các quốc gia thuộc khu vực phải thích ứng với những thay đổi bên ngoài trong khi vẫn duy trì được quyền tự chủ.
Tập trung vào những giải pháp kinh tế cũng cho phép các quốc gia Đông Nam Á thực hiện các chương trình nghị sự trong nước, cũng như tránh những vấn đề chính trị hoặc an ninh nhạy cảm với các nước láng giềng lớn. Do đó, những bên liên quan ở Đông Nam Á đã chọn coi việc tiếp cận nguồn tài nguyên khoáng sản quan trọng và mạch tích hợp là cơ hội để tận dụng nguồn lực nước ngoài trong ngắn hạn, bất chấp những lo lắng sâu sắc về môi trường chiến lược phân nhánh trong dài hạn.
Tương tự, mặc dù áp lực địa chính trị xung quanh các tuyến cáp thông tin dưới biển ngày càng mạnh mẽ hơn, bằng chứng là những thay đổi trong cơ cấu quyền sở hữu, các quyết định định tuyến và việc áp đặt các thỏa thuận an ninh quốc gia trong quá trình đàm phán, các cuộc thảo luận ở Đông Nam Á vẫn gắn liền với lợi ích giao thương và hướng tới sự kết nối những tuyến cáp này.
Với tư cách là một nhóm, những quốc gia thành viên trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng bị cản trở bởi cơ cấu thể chế, dẫn đến phân tách các chủ đề thảo luận trong khối thành những nhóm riêng biệt, gồm: chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội. Vì công nghệ được coi là đòn bẩy cho tăng trưởng và phát triển nên chương trình nghị sự số hóa sẽ là trọng tâm chú ý của cộng đồng kinh tế ASEAN.
Tuy nhiên, chiến lược né tránh không phải là giải pháp bền vững và đến thời điểm hiện tại, ASEAN nên nhận ra rằng định hướng lâu dài trong các vấn đề quốc tế luôn là đặt ra những quy tắc, tiêu chuẩn và chương trình nghị sự thay vì chỉ đơn giản là tạo thuận lợi cho sự lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và dữ liệu.
Nếu ASEAN không giải quyết được các thách thức xuyên suốt trong bối cảnh những vấn đề này biến đổi không ngừng, cơ cấu cộng đồng chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội trong nội khối sẽ làm trầm trọng thêm những thách thức mà nhóm 10 quốc gia đang phải đối diện là tiền tệ, tính trung tâm và tính phù hợp.
Trong thời gian tới, bối cảnh chiến lược sẽ còn mờ mịt hơn nữa. Chủ nghĩa dân tộc độc hại đang lan rộng đang phủ bóng đen lên hàng loạt sự kiện bầu cử trên khắp thế giới. Đổi mới công nghệ sẽ tiếp tục phá vỡ các không gian kinh tế đồng thời làm xói mòn các biên giới truyền thống giữa chiến tranh và hòa bình.
Suy cho cùng, thông tin sai lệch đã, đang là một vấn đề nghiêm trọng; công nghệ có thể đồng thời là chất xúc tác cho hoạt động thương mại và xung đột. Đã đến lúc các bên liên quan ở Đông Nam Á quan tâm đến mối liên kết đã nêu.
Nguồn: SCMP
Từ khóa: Đông Nam Á, địa chính trị, thương mại, công nghệ
Các tin khác
- Thực tế mức thuế nhiên liệu hóa thạch toàn cầu hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh tới đâu? - 13/05/2024
- Tái định vị các giá trị gia tăng giúp hàng xuất khẩu chủ lực Việt giữ vững phân khúc thị phần cấp cao - 10/05/2024
- Vì sao doanh nghiệp Việt chậm chinh phục các nhà thu mua lớn trên toàn cầu? - 10/05/2024
- Trợ lực để sản xuất công nghiệp phục hồi mạnh - 10/05/2024
- Đo lường khí thải carbon: Thị trường tiềm năng mới cho doanh nghiệp - 07/05/2024






















