
Ở Mỹ và Anh, chính sách hướng về sự bảo hộ đang nhận được nhiều ủng hộ. Cùng với đó, thời đại toàn cầu hóa có thể khép lại, giống như những sự thay đổi diễn ra vào đầu thế kỷ 20 khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc giai đoạn mở cửa thương mại và chính sách bảo hộ có hiệu lực trong thời kỳ Đại suy thoái của những năm 1930.
Xu hướng bảo hộ
Ứng viên Tổng thống của Đảng Cộng hòa Donald Trump đã chống đối các đề xuất thương mại và tự do hóa đầu tư trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký bởi 12 quốc gia. Ông cũng là người chống lại các cuộc đàm phán hiện nay giữa Mỹ và Liên minh châu Âu về Hiệp Định Thương mại Tự do Xuyên Đại Tây Dương (TTIP).
Sau các thách thức mạnh mẽ của Thượng nghị sĩ Bernie Sanders trong bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ, ứng cử viên tổng thống của đảng, bà Hillary Clinton, đã bị buộc phải chối bỏ sự ủng hộ của mình với TPP. Bà cũng đã bóng gió rằng bà sẽ không ủng hộ TTIP.
Số phiếu đang bị đe dọa, với những phản ứng mạnh mẽ từ các tiểu bang thuộc vùng Tây Bắc và Trung Tây của Mỹ chống lại sự mất mát việc làm. Sự phản ứng này đã bỏ qua lợi ích từ khu vực dịch vụ của Mỹ, đặc biệt là Thung lũng Silicon, khu vực tài chính Manhattan và những thành phố có trụ sở của các công ty Mỹ với chuỗi giá trị toàn cầu cùng sự tăng trưởng nhanh chóng trong những năm gần đây.
Sự đẩy ngược này cũng đã được nhìn thấy trong sự kiện Brexit vào tháng Sáu. Với mối quan tâm nhập cư chiếm ưu thế hơn mong muốn giữ lại quyền tiếp cận vào các thị trường châu Âu, nước Anh đã cứng rắn quyết định Brexit. Những lo lắng ngày càng tăng về nhập cư và tái định cư của người tị nạn cũng đang có ảnh hưởng tiêu cực về chính trị trong EU. Thủ tướng Đức Angela Merkel đã buộc phải từ bỏ chính sách mở cửa của mình đối với người tị nạn.
Thậm chí ở Singapore, quốc gia được hưởng lợi từ thị trường mở như cảng trung chuyển, là một xã hội di cư và có dân số lão hóa cùng với một tỷ lệ sinh giảm, có sự thù ghét những người nhập cư mới và lao động nước ngoài. Họ được xem là những kẻ cạnh tranh công việc, gây quá tải và giảm cơ hội cho người dân địa phương. Điều này đã dẫn tới một sự cắt giảm trong việc làm của người nước ngoài và thiết lập các mục tiêu khiêm tốn hơn cho tăng trưởng GDP. Đáng ngạc nhiên hơn, đối với một nền kinh tế mà thương mại bằng ba lần GDP và đã được hưởng lợi từ các biện pháp mở cửa thị trường, tại cuộc mít tinh vận động trong cuộc tổng tuyển cử năm ngoái, phe đối lập Đảng Dân chủ Singapore từ chối TPP và chỉ trích các thỏa thuận thương mại tự do, chẳng hạn như Thỏa thuận Hợp tác toàn diện Kinh tế Ấn Độ-Singapore (CECA), đã dẫn đến một làn sóng lao động nước ngoài, những chỉ trích trùng khớp với các phương tiện truyền thông xã hội.
Sự chuyển đổi của các nước Đông Á
Trong 30 năm qua, hàng hóa và dịch vụ thương mại đã tăng trung bình khoảng 7 phần trăm/năm, với sự tăng trưởng trong các dịch vụ đóng một vai trò lớn hơn. Thương mại thế giới tăng nhanh gấp đôi sản lượng thế giới. Đặc biệt quan trọng là thay đổi từ chính sách tự trị của Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước đang phát triển, trong đó đã chuyển đổi từ các chính sách của năm 1970 và năm 1980 với việc thúc đẩy tự cung tự cấp, bảo vệ các ngành non trẻ, quốc hữu hóa các ngành công nghiệp và các chương trình khuyến khích các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), xuất khẩu của các nước đang phát triển đã tăng trưởng nhanh nhất kể từ những năm 1990. Trong khi các nước đang phát triển chiếm 34 phần trăm xuất khẩu trên thế giới vào năm 1980, vào năm ngoái, tỉ trọng của họ đã tăng lên đến 43 phần trăm. Tỷ trọng xuất khẩu thế giới của Trung Quốc đã tăng từ 1 phần trăm năm 1980 lên 14 phần trăm vào năm ngoái. Mỹ, Nhật Bản và EU được ghi nhận giảm tỉ trọng xuất khẩu. Một khía cạnh thú vị và thường bị bỏ qua là thương mại giữa các quốc gia đang phát triển đã tăng lên đáng kể. Tỉ trọng thương mại "Nam-Nam" tăng từ 8 phần trăm năm 1980 lên gần 25 phần trăm vào năm ngoái.
Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong thời gian này cũng phản ánh tác động của chuỗi cung ứng quốc tế. Tầm quan trọng của logistics và chuỗi cung ứng hiệu quả nghĩa là các công ty như Li Hong Kong & Fung, công ty quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng cho các thương hiệu toàn cầu, kiếm được 4USD cho mỗi 1 USD thu được của các nhà sản xuất thiết bị gốc. Tương tự như vậy, các thương hiệu công ty hàng cao cấp ở Mỹ và EU gia tăng thu nhập của họ bằng cách gia công sản xuất ở các nhà máy sản xuất trong một loạt các nền kinh tế mới nổi.
Ở Đông Á, sự gia tăng của sản xuất phân phối dẫn đến sự phát triển của điện tử cũng như các ngành công nghiệp dệt may trong khu vực.
Các ngành công nghiệp là chìa khóa cho sự chuyển đổi kinh tế ban đầu của khu vực. Bắt đầu với hoạt động lắp ráp đơn giản hàng điện tử, các nhà sản xuất trong khu vực nâng cấp kỹ năng và khả năng của mình qua thời gian, khi các hoạt động lắp ráp đơn giản di chuyển đến các khu vực và Đài Loan, sự mở cửa cho sở hữu nước ngoài tạo điều kiện cho sự xâm nhập của các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) vào khu vực.
Trong sản xuất hàng dệt may, sự tồn tại của hạn ngạch ở Mỹ, EU và các nước phát triển khác lên đến đầu năm 2005 dẫn đến Singapore, Đài Loan và Hồng Kông vẫn duy trì khả năng sản xuất đáng kể, mặc dù chi phí lao động của họ đã tăng lên nhiều. Hiệp định WTO bảo vệ các nhà xuất khẩu của họ khỏi sự cạnh tranh của những nhà sản phẩm có chi phí thấp hơn từ Bangladesh, Việt Nam và Indonesia, những nước sản xuất hàng dệt may xuất khẩu.
Đồng thời, xuất khẩu của Đông Á đã được hỗ trợ bởi việc nâng cấp nhanh chóng của cơ sở hạ tầng. Các sân bay, bến cảng và đường cao tốc đẳng cấp thế giới được xây dựng. Bưu chính viễn thông hiện đại và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin được xây dựng cùng với các trường đại học mong muốn đạt được tiêu chuẩn thiết lập bởi những tổ chức hàng đầu trong lĩnh vực. Là người đến sau, các nước này được hưởng lợi từ những đổi mới đã diễn ra ở các nước phát triển.
Ngược lại, Mỹ phải đối mặt với những thách thức từ cơ sở hạ tầng trong thời điểm đã có một sự thúc đẩy cho mức thuế thấp hơn và chính phủ tinh gọn hơn, cắt giảm năng lực từ chính quyền bang và liên bang trong việc thực hiện những dự án cơ sở hạ tầng lớn nhất.
Đông Á đã được hưởng lợi lớn từ thị trường mở toàn cầu. Hiện nay, Trung Quốc đã nổi lên như là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới và có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất toàn bộ, từ nhiệm vụ lắp ráp đơn giản để các kỹ năng phức tạp và giải pháp sáng tạo dựa trên nghiên cứu. Các nền kinh tế công nghiệp mới của Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore đã được tiếp nối bởi Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Indonesia. Sau khi đi chậm trong ba thập kỷ, nền kinh tế Philippines đã có những tín hiệu tốt trong những năm gần đây và đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất là 6,9 phần trăm trong ASEAN trong sáu tháng đầu năm nay.
Sự đẩy ngôi tại Mỹ và Châu Âu
Những xu hướng đã kể trên, mà đã được nhân rộng tại Mexico, Brazil và nhiều nơi khác ở các nước đang phát triển, đã dẫn đến việc "đẩy ngược" trông thấy trong các cuộc bầu cử Mỹ và trưng cầu dân ý của Anh. Những người thua cuộc trong thương mại quốc tế trở nên buồn chán vì công việc lương cao đòi hỏi kỹ năng giờ đây đã chuyển tới bờ biển xa xôi nơi cùng một sản phẩm có thể được sản xuất với chi phí thấp hơn nhiều. Ông Trump đã giành được sự ủng hộ từ các tiểu bang thuộc vùng Tây Bắc và Trung Tây của Mỹ bằng cách tuyên bố rằng ông sẽ “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại" bằng cách tăng thuế và mang sản xuất đến khu trung tâm của Mỹ.
Điều này cũng có tác động về chính trị châu Âu. Thủ tướng Merkel đã nhấn mạnh rằng EU chiếm 7 phần trăm dân số thế giới, 25 phần trăm sản lượng thế giới và 50 phần trăm của các dịch vụ xã hội. Mức độ như vậy của các dịch vụ xã hội là không bền vững. Tuy nhiên, chính phủ dân chủ được bầu ra ở EU tiếp tục chịu những áp lực phải cung cấp các dịch vụ xã hội cũng như nhu cầu lợi ích gia tăng như miễn học phí đại học và lương hưu có tính đến lạm phát.
Các nguy cơ của chủ nghĩa bảo hộ thương mại đã gia tăng. Sự thất bại của vòng đàm phán Doha đã nêu bật những bế tắc trong đàm phán thương mại toàn cầu. Những nhà đàm phán thương mại nhấn mạnh rằng thỏa thuận chỉ có thể đạt được thông qua các vòng đàm phán mà "không có gì là đồng ý, cho đến khi tất cả mọi thứ được đồng ý". Với sự chấp nhận của Afghanistan trong tháng Bảy năm nay, hiện có 164 thành viên WTO. Nhiều nước không có vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế. Với mỗi thành viên có quyền phủ quyết, không thể đạt được thỏa thuận nào cả.
Vấn đề phức tạp bởi các nước nhìn nhận WTO như là một cơ quan phúc lợi xã hội. Đối với các nước phát triển, nhiều người đưa phong bì nhằm tìm kiếm "đằng sau biên giới" các thỏa thuận về các vấn đề như môi trường, tiêu chuẩn lao động, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh và doanh nghiệp nhà nước, gồm cả tác động về quản trị trong nước và đang diễn ra giữa các nước đang phát triển .
Điều đó đã dẫn đến các thỏa thuận thương mại ưu đãi song phương và khu vực, thường nhầm lẫn gọi là "các hiệp định thương mại tự do". Tuy nhiên, các hiệp định thường có tác động tối thiểu trong việc mở rộng thương mại và thường bị chi phối bởi những cân nhắc chính trị.
Trong khi chờ đợi TPP, hiệp định này có nhiều tiềm năng để tăng cường thương mại trong khu vực, mặc dù không chắc rằng Mỹ sẽ có được sự phê chuẩn của Thượng viện trước lễ nhậm chức của tân tổng thống.
Ngược lại, các cuộc đàm phán hiện nay giữa 10 nước thành viên của ASEAN và sáu nước đối tác (Australia, New Zealand, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ) cho Hiệp định Đối tác Kinh tế Tòan diện khu vực (RCEP) đã bị đình trệ. RCEP có thể hệ thống hóa các thỏa thuận đạt được trên cơ sở song phương hiện có, nhưng nó dường như không đạt được bước đột phá lớn trong việc mở rộng thương mại khu vực.
Giống như TPP, nó có khả năng không chạy theo xu hướng khi xảy ra việc quay lưng lại với thị trường mở và thương mại tự do.
Nguồn: straitstimes.com - HT
Từ khóa: Thương mại toàn cầu, chịu va vấp.
Các tin khác
- Tranh thủ thuận lợi FTA giữa Việt Nam - EAEU - 18/10/2016
- Vào EVFTA: Tăng cơ hội việc làm ở nhiều ngành - 18/10/2016
- BRICS và thách thức giải quyết những mối đe dọa toàn cầu - 17/10/2016
- Nỗ lực cứu Thỏa thuận kinh tế và thương mại EU-Canada - 17/10/2016
- Gỡ rào cản cho nông, thủy sản vào Nga - 14/10/2016






















