EU đang đẩy mạnh mục tiêu tăng năng lực sản xuất nội khối, giảm phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài và củng cố tự chủ chiến lược trong các ngành then chốt. Xu hướng này đang tạo ra những thách thức mới cho doanh nghiệp, hàng hóa Việt Nam tại thị trường EU nói chung, khu vực Bắc Âu nói riêng.
Để chuẩn bị và tuân thủ các quy định về kiểm kê khí nhà kính, một trong những yếu tố quan trọng nhất là doanh nghiệp cần phải hiểu rõ danh mục phát thải của mình, phạm vi các nguồn thải, xác định nguồn phát thải lớn và nguồn có khả năng giảm phát thải...
Sau những áp lực từ các rào cản thương mại mới, chuyển đổi xanh không chỉ là thách thức mà đang dần mở ra cơ hội tái định vị cho doanh nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, việc đáp ứng các tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG) không chỉ giúp doanh nghiệp “qua rào”, mà còn trở thành đòn bẩy nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút nguồn lực đầu tư.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển mạnh sang phát triển bền vững, doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với những thách thức lớn trong hành trình chuyển đổi xanh. Áp lực không chỉ đến từ yêu cầu về vốn và công nghệ, mà còn nằm ở năng lực quản trị, minh bạch dữ liệu và khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính xanh, những yếu tố mà phần lớn doanh nghiệp trong nước chưa sẵn sàng.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, tiêu chuẩn xanh bao gồm các yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) cùng chính sách thương mại liên quan đến phát thải carbon không còn đơn thuần là xu hướng hay “lợi thế cạnh tranh”. Những yêu cầu này đã trở thành điều kiện bắt buộc, quyết định khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu lớn và duy trì vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ tháng 6/2026, doanh nghiệp Việt Nam dự kiến sẽ có thêm một “cánh cửa” mới để tiếp cận nguồn vốn xanh, khi cơ chế tự đánh giá theo bộ tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG) được đưa vào áp dụng. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính xanh và hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững.
Xem tiếp...
Trong quan hệ quốc tế, người ta thường nói nhiều về chi phí chiến tranh: bao nhiêu tên lửa đã được phóng, bao nhiêu cơ sở hạ tầng đã bị phá hủy, bao nhiêu sinh mạng đã mất, bao nhiêu ngân sách quốc phòng đã bị tiêu hao. Nhưng đó mới chỉ là phần nổi. Trong một thế giới liên kết chặt chẽ bằng dầu mỏ, vận tải biển, tỷ giá, tín dụng, chuỗi cung ứng và tâm lý thị trường, một cuộc chiến hiện đại không chỉ làm tổn thương những bên trực tiếp tham chiến. Nó còn sản sinh ra một dạng tổn thất rộng hơn, âm thầm hơn nhưng lan nhanh hơn: chi phí ngoại tác chiến lược - strategic externality cost.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt ra mục tiêu, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên, đưa thu nhập bình quân đầu người chạm mốc 8.500 USD vào năm 2030. Tuy nhiên, để chuyển hóa khát vọng thành hiện thực, nền kinh tế phải đối mặt với những biến số ngoại biên cực kỳ phức tạp.
Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Mỹ, EU, Canada đang đứng trước nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại hoặc chống lẩn tránh thuế rất cao do tốc độ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn...
Quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn tăng gần 6% nhưng giá nhiều mặt hàng chủ lực đi xuống, làm suy giảm giá trị, đặt ra yêu cầu nâng chất tăng trưởng.
Trang 15 trong 2431 trang