JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Hội nhập và phát triểnĐược gì sau 30 năm thu hút FDI? - Bài 3: FDI chưa bén rễ và lan tỏa như kỳ vọng

Được gì sau 30 năm thu hút FDI? - Bài 3: FDI chưa bén rễ và lan tỏa như kỳ vọng

FDI 0529

Trong quá trình thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam mong muốn khu vực kinh tế này sẽ là cầu nối giúp các DN nội liên kết sâu, mạnh mẽ và vững vàng với chuỗi sản xuất toàn cầu. Thực tế, các DN FDI đã góp phần giúp khoảng cách này được thu hẹp lại, song kết quả của quá trình này vẫn chưa đạt được so với kỳ vọng.

Chuyển giao công nghệ còn hạn chế

Những dấu ấn của khu vực FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong suốt chiều dài 30 năm qua là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là, ngoài những gì nhìn thấy được, đầu tư nước ngoài ở Việt Nam còn đem lại lợi ích lâu dài gì, hay nói cách khác là tác động lan toả theo chiều sâu của khu vực FDI đến khu vực trong nước là như thế nào? 

Theo GS Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài (VAFIE), hiệu ứng các ngành nghề mới, công nghệ mới của các DN FDI là rất lớn, nhờ DN FDI nên nhiều ngành kinh tế của Việt Nam đã có công nghệ tiên tiến so với khu vực cũng như thế giới như ngành dầu khí, điện tử, viễn thông. Còn theo ông Lê Duy Thành, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc, các DN nhỏ của Vĩnh Phúc cũng bắt đầu bắt nhịp được vào dòng chảy của khu vực FDI khi hiện có nhiều DN tham gia làm nhà cung ứng cấp 1 cho các DN FDI, đem lại sự thay đổi trong kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, công nghệ của các DN.

Nhưng thực tế, câu chuyện lan tỏa của FDI thường được nhắc tới như là khiếm khuyết của thu hút đầu tư nước ngoài. Mặc dù ghi nhận những tác động của khu vực FDI, song theo đánh giá chung, tác động lan tỏa của FDI đối với khu vực kinh tế trong nước còn hạn chế và chưa đạt được như kỳ vọng. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, kết nối giữa các DN FDI với các DN cung ứng trong nước còn tương đối yếu, nếu không muốn nói là rất hạn chế.

Ông Phạm Anh Tuấn, Tổng trưởng Ban Kế hoạch chiến lược, Công ty TNHH Toyota Việt Nam:

Khi đầu tư vào Việt Nam, Toyota Việt Nam đã chọn giải pháp tìm kiếm các DN phụ trợ trong nước, song không hề dễ dàng. Rào cản đầu tiên khi làm với DN Việt Nam sản lượng thấp nên chi phí cao, vì thế họ rất khó cạnh tranh với sản phẩm XK cùng loại của Thái Lan. Hiện các DN cung cấp của Toyota chủ yếu là những DN FDI vốn cung cấp cho Toyota ở nước khác và họ theo vào Việt Nam.

Liên quan vấn đề chuyển giao công nghệ của khu vực FDI trong 30 năm qua, theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn) cũng như chuyển giao công nghệ chưa đạt được như kỳ vọng. Có khoảng 80% dự án FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 14% ở mức thấp và lạc hậu và chỉ 5-6% sử dụng công nghệ cao. Việc chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều ngang – giữa DN với DN, do mặt bằng công nghệ sử dụng trong các dự án FDI chưa cao nên hiệu quả chuyển giao công nghệ theo chiều ngang còn hạn chế. Công nghệ thấp dẫn đến các DN tại Việt Nam chủ yếu thực hiện việc gia công, hệ quả là DN Việt Nam tạo ra gia trị gia tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng cho rằng, nhìn chung, việc khai thác, học hỏi công nghệ  thông qua FDI  chưa đạt được kết quả như mong muốn. Thực tiễn của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là minh chứng rõ nhất cho điều này. Sau nhiều năm phát triển, hiện nay công nghệ sản xuất không có nhiều cải thiện, vẫn chỉ dừng lại ở NK linh kiện và lắp ráp. Tỷ lệ nội địa hoá chỉ 15-40%, chi phí sản xuất cao hơn khoảng 20% so với các nước khác trong khu vực ASEAN, đồng thời ngành công nghiệp phụ trợ chỉ dừng lại ở sản xuất vài linh kiện đơn giản như ắc quy, lốp xe.

Hiệu ứng lan tỏa vẫn rất khiêm tốn

Trên thực tế, quá trình kết nối giữa khu vực FDI và kinh tế trong nước là sự tổng hợp của các yếu tố bao gồm: Tiềm năng lan tỏa của FDI, năng lực hấp thụ của DN trong nước và chính sách kinh doanh, môi trường thể chế của nước sở tại. Nếu một trong 3 yếu tố này còn hạn chế thì sự lan tỏa cũng sẽ không có được kết quả tốt. Có thể lấy dẫn chứng của Vĩnh Phúc để thấy rõ vấn đề này. Được biết, hiện nay phần lớn đối tác của 2 DN FDI  lớn tại Vĩnh Phúc (Toyota và Honda) là các DN FDI. Các DN trong tỉnh, trong vùng và trong nước chưa tham gia được nhiều vào chuỗi sản xuất này. Điều này cũng tương tự với Tập đoàn Samsung. Đến nay tổng cộng có 215 DN Việt Nam (bao gồm 25 DN cung ứng cấp 1 và 190 DN cấp 2) tham gia vào chuỗi cung ứng cho các nhà máy của tập đoàn này. Nguyên nhân, theo đại diện tỉnh Vĩnh Phúc, một mặt các DN FDI lớn khi đầu tư vào Việt Nam thường kéo theo các đối tác truyền thống, do đó cơ hội dành cho DN Việt Nam là rất ít. Mặt khác, do chiến lược, chính sách đón nhận sự lan tỏa của khu vực FDI của Việt Nam còn chưa rõ ràng, thiếu khả thi, ví dụ như chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô, xe máy.

Năng lực hấp thụ của DN nội cũng là lý do hạn chế sức lan tỏa của FDI. Phần lớn DN trong nước là DNNVV, hạn chế về vốn, công nghệ, chất lượng lao động, kinh nghiệm quản lý, quản trị DN... do vậy, chưa thể tham gia “cuộc chơi” cạnh tranh trong cung cấp linh - phụ kiện cho các DN FDI. Như vậy, ở đây, câu chuyện lan tỏa chưa được như mong muốn, ngoài lý do các tập đoàn FDI  lớn thường có các DN FDI vệ tinh đi kèm, thì nguyên nhân quan trọng là do các DN nội chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, giá thành, thời hạn giao hàng của DN FDI.

Nhấn mạnh kết nối giữa DN FDI và DN nội rất khiêm tốn, ông Đậu Anh Tuấn - Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết: “Những cuộc điều tra hàng năm của VCCI cho thấy, các DN FDI chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt, còn lại là NK và nhập từ công ty mẹ”. Nguyên nhân, theo ông Tuấn, xuất phát từ loại hình hoạt động, trước đây có nhiều mô hình liên doanh giữa FDI và tư nhân, hiện nay gần như DN FDI là DN 100% vốn đầu tư nước ngoài, điều này sẽ hạn chế việc chuyển giao công nghệ tiên tiến cho DN nội như kỳ vọng và cam kết. Trong khi đó, về phía Việt Nam cũng có một số điểm yếu như tính minh bạch, chất lượng dịch vụ công, hạ tầng còn thấp làm hạn chế sự lan tỏa. Ngoài ra, sự liên kết còn yếu do về phía DN nội chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, trình độ công nghệ và khả năng hấp thụ công nghệ của DN Việt còn hạn chế. Theo WB, năm 2015, các DN FDI Nhật Bản có 32% đầu vào từ DN trong nước, trong khi đó con số này tại Trung Quốc là 65% và Thái Lan là 55%, chưa kể trong số 32% đó bao hàm cả các DN cung ứng là DN FDI tại Việt Nam.

Cần chính sách để FDI bén rễ, lan tỏa

Dù phát triển cùng với kinh tế trong nước nhưng sự tác động qua lại giữa khu vực FDI và kinh tế trong nước chưa chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau. Khu vực FDI hoạt động riêng lẻ, thay vì đóng vai trò chung làm xúc tác cho tăng trưởng. Chính vì điều này, tại Việt Nam dường như đang tồn tại hai nền kinh tế là FDI và nội địa. 

Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, ngoài các đóng góp đã nhìn được của khu vực FDI, nước tiếp nhận vốn FDI cũng mong muốn các DN này phải bén rễ, lan toả vào khu vực kinh tế trong nước. Điều này có nghĩa DN FDI phải giúp năng lực cạnh tranh, năng suất của các DN trong nước đi lên và đây cũng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của FDI. “Chính sách FDI hiện chưa làm tốt vai trò tạo liên kết giữa DN FDI với DN trong nước. Do đó cần xây dựng khung chính sách FDI, trong đó cần coi nhiệm vụ tăng năng lực của khu vực DN trong nước để khu vực này có thể kết nối được với khu vực FDI, qua đó tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu là một cấu thành quan trọng của chính sách FDI. Có như vậy mới tăng hiệu quả của FDI đối với sự phát triển của kinh tế trong nước”.

Theo đó, bà Tuệ Anh cho rằng, cần hình thành các cụm ngành để khai thác tác động lan tỏa của FDI ở một số ngành có dung lượng thị trường lớn, có sự hiện diện của các DN FDI đầu đàn, từ đó phát triển DN sản xuất đầu vào trung gian, có khuyến khích hoặc ra điều kiện về liên kết sản xuất, chuyển giao công nghệ của DN FDI trong những ngành này cho DN nội. “Định hướng thu hút FDI cần có sự chọn lọc, trong đó mở ra cơ hội cho DN nội tham gia vào chuỗi giá trị của ngành/DN FDI và có bước chuẩn bị trước để đón nhận chủ động. Có thể coi cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị này là điều kiện để thu hút FDI”, bà Nguyễn Thị Tuệ Anh nhấn mạnh. Bên cạnh đó, cần đặt mục tiêu cải thiện các chỉ số liên quan đến sự  lan tỏa FDI để theo dõi và giám sát như: chỉ số về năng lực hấp thụ công nghệ; FDI và chuyển giao công nghệ; số lượng và chất lượng nhà cung ứng nội địa; bề rộng của chuỗi, nhân tài…

Nhấn mạnh “không nên trông chờ vào việc DN FDI mở cửa cho DN Việt nếu DN chúng ta còn vừa yếu vừa thiếu về nhiều mặt”, TS. Phan HữuThắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng, “Nhà nước phải có những chính sách hỗ trợ cho các DN nâng cao năng lực, đáp ứng được yêu cầu khắt khe của DN FDI và lâu dài hơn là phải theo con đường xây dựng nền kinh tế tự cường, để DN Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu bằng sản phẩm “Made in Vietnam” 100% của Việt Nam chứ không chỉ là gia công”. 

Nguồn: Báo Hải quan

Từ khóa: được gì, sau 30 năm, thu hút FDI, bài 3, FDI, chưa bén rễ, lan tỏa, kỳ vọng

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Hội nhập và phát triển

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Lượt truy cập

008754944
Go to top