JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTin trong nướcNgành dệt may: “không phụ thuộc trong hội nhập”

Ngành dệt may: “không phụ thuộc trong hội nhập”

Trong kinh doanh khái niệm không bỏ trứng vào một giỏ luôn được các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tuân thủ một cách chặt chẽ. Tuy nhiên kể từ khi có sự kiển biển Đông vấn đề này ở góc độ doanh nghiệp hay ở cả một ngành nghề của Việt Nam đặc biệt là ngành dệt may được dấy lên như một hồi chuông cảnh báo về sự phụ thuộc. Tại hội thảo “Liên kết  để không phụ thuộc” do thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức tại TP.HCM vừa qua ông Lê Quốc Ân, nguyên Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã có những ý kiến cũng như giải pháp về vấn đề này trong ngành dệt may.

Đề hiểu rõ hơn về sự phụ thuộc của ngành dệt may chúng ta cần nắm rõ chuỗi giá trị ngành Dệt may cơ bản bao gồm bắt đầu đi từ: Bông xơ, xơ tổng hợp à Sợi à Dệt à Vải à Nhuộm à May. Theo số liệu của Hiệp hội Dệt may năm 2013 thống kê cho năm 2012 Về bông xơ mỗi năm trong nước chỉ sản xuất được 5000 tấn nhập khẩu 400 ngàn tấn trong đó nhập từ Hoa Kỳ 104 ngàn tấn chiếm 25%, Ấn Độ 80 ngàn tấn chiếm 20%... chúng ta chỉ nhập từ Trung Quốc 767 tấn, con số này là không đáng kể. Về xơ tổng hợp năm 2012 chúng ta sản xuất được 200 ngàn tấn và nhập khẩu cũng tương đương 200 ngàn tấn, 200 ngàn tấn nhập khẩu này chúng ta nhập từ Đài Loan 30% , Thái Lan 17%...

- Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản lượng bông, mỗi năm 7 trệu tấn bông, tiếp sau đó là Hoa Kỳ, tuy nhiên chính sách sử dụng bông của 2 quốc gia này hoàn toàn khác nhau. Trong khi Trung Quốc trồng để đáp ứng nhu cầu trong nước là chủ yếu thì Hoa Kỳ lại có xu hướng trồng bông để xuất khẩu.

- Từ khối lượng bông xơ và xơ tổng hợp như trên năm 2012 chúng ta sản xuất được 680 000 tấn sợi, trong đó chúng ta xuất khẩu 442 000 tấn, xuất sang Trung Quốc 30%, sang Thổ Nhĩ Kỳ 30%, còn lại là sang các nước khác. 238 ngàn tấn còn lại chúng ta chuyển sang khẩu dệt vải. Từ 238 ngàn tấn sợi này chúng ta dệt được khoảng 1,3 tỷ m2 vải.

- Sau khi dệt chúng ta chuyển sang khâu nhuộm, chúng ta nhuộm trong nước khoảng 800 triệu mét còn lại phải đi nhuộm ở các nước khác.

- Chúng ta chỉ dệt được khoảng 1,3 tỷ mét trong khi nhu cầu của ngành may 2013 khoảng 6-8 tỷ m2 vải, như vậy chúng ta sẽ phải nhập khẩu hơn 6 tỷ mét vải, con số này dự báo sẽ tăng lên do lượng tiêu thụ vải của thị trường Việt Nam bình quân tăng 9-10%/năm trong khi đề án tăng diện tích và năng suất trong việc trồng bông đang gặp nhiều khó khăn. Tổng giá trị của ngành Dệt may năm 2012 là 18,2 tỷ USD trong đó xuất khẩu chiếm 15,4 tỷ USD còn lại là thị trường nội địa.

- Chỉ riêng trong quý I 2014 Việt Nam đã nhập khẩu vải trị giá 1,9 tỷ USD trong đó nhập từ Trung Quốc 909 triệu USD chiếm gần 50% sản lượng nhập khẩu vải của Việt Nam, từ Hàn Quốc 386 triệu, Đài Loan 313 triệu, Nhật Bản 110 triệu. Như vậy về bông xơ, xơ tổng hợp, sợi, dệt mặc dù nhập khẩu nhiều nhưng Việt Nam không quá phụ thuộc vào thị trường nào. Tuy nhiên về vải Việt Nam hiện đang phụ thuộc khá nhiều vào thị trường Trung Quốc.

 detmay1

Giải pháp cho ngành dệt may

 

  1. Tăng tỷ lệ nội địa hóa trong ngành Dệt may Việt Nam.

Quan điểm này đã được thể hiện trong chiến lược phát triển ngành Dệt may Việt Nam tại:

  • Quyết định 36/2008/TTg ngày 10/8/2008
  • QĐ 3218/2014/BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương

Nội dung

Đơn vị

2015

2020

2030

Xuất khẩu

Tỷ USD

23-24

36-38

64-67

Tỷ lệ nội địa hóa

%

55

65

70

- Năm 2013 tỷ lệ nội địa hóa trong ngành Dệt may là 45%, mục tiêu 55% như trong kế hoạch là khó đạt được.

- Vấn đề thứ nhất: Nội địa hóa là phải đẩy mạnh sản xuất vải tại Việt Nam, vậy thì ai sẽ làm theo quan điểm của ông Ân ngành Dệt may Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng đến nay vẫn chỉ sản xuất được hơn 1 tỷ mét vải mỗi năm, chi phí đầu tư vào dệt vải và hoàn tất quá trình nhuộm vải đòi hỏi chi phí rất lớn, tính từ hàng triệu USD trở lên. Một nhà máy như thế muốn sản xuất được 20 triệu mét vải phải đầu tư khoảng 20 triệu USD. Từ thực tiễn nhiều năm qua cho thấy doanh nghiệp Việt Nam khó làm được, tuy nhiên vấn đề lớn nhất không phải là vốn mà là trình độ quản lý và công nghệ. Chính vì thế muốn đẩy mạnh việc sản xuất vải trước tiên phải có cơ chế thu hút các dự án.

- Vấn đề thứ 2 là môi trường, hiện nay các dự án có liên quan đến nhuộm thì hầu hết đều không được đón nhận do lo ngại về vấn đề môi trường. Đây là vấn đề hết sức khó khăn, chúng ta không thể đánh đổi môi trường để đạt được tỉ lệ nội địa hóa này. Ở Trung Quốc, chỉ 1 khu công nghiệp  có khoảng 40 nhà máy họ đã có sản lượng 1 tỷ mét vải mỗi năm và xả ra môi trường 100 ngàn mét khối nước một ngày đêm (sản lượng vải hằng năm của Trung Quốc đạt khoảng 60 tỷ mét vải). Vấn đề đặt ra ở đây là phải quản lý tốt môi trường. Vậy chúng ta có thể quản lý được không, theo ông Ân chúng ta hoàn toàn có thể quản lý được. Không nên quá sợ vấn đề ô nhiễm, chúng ta phải coi đây là một vấn đề lớn và quản lý nó chứ không nên sợ. Vậy chúng ta phải quản lý như thế nào, phải có khu công nghiệp dành cho ngành dệt may, không để các nhà máy nhuộm nằm rải rác không quản lý được. Phải có hệ thống quan trắc nước xả thải để kiểm soát các thông số của nước và hệ thống này được kết nối với các cơ quan quản lý môi trường. Có cơ chế thưởng phạt rõ ràng nghiêm minh đối với các doanh nghiệp vi phạm và các doanh nghiệp chấp hành tốt. Chẳng nếu doanh nghiệp làm tốt sẽ được giảm thuế thu nhập để đầu tư vào hệ thống xử lý. Chúng ta hoàn toàn có thể quản lý và phát triển ngành nhuộm một cách song hành với nhau.

2. Vấn đề đa dạng hóa nguồn nhập.

Ngoài việc tăng tỉ lệ nội địa hóa chúng ta cần phải tính đến việc đa dạng hóa nguồn nhập. Không phải đến lúc có căng thẳng về biển Đông chúng ta mới suy nghĩ về vấn đề này mà từ trước đến nay trong kinh doanh chúng ta đều biết rằng không nên bỏ trứng vào một giỏ. Chúng ta hoàn toàn có thể nhập  vải từ các thị trường như Ấn Độ, Pakitan, Hàn Quốc hay các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia các nước này đều có điểm mạnh khác nhau trong ngành dệt may và chúng ta có thể khai thác các điểm mạnh này để đa dạng hóa thị trường nhập.

3. Xây dựng chuỗi liên kết trong ngành dệt may giữa các nước ASEAN, TPP và các nước có FTA khác, hiện nay chúng ta đã có khá nhiều các FTA và chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng lợi thế này để đáp ứng quy tắc xuất xứ nhằm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường về mặt giá cả. Hiệp định TPP được ký kết sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho hàng dệt may của Việt Nam khi xuất sang thị trường Mỹ so với hàng Trung Quốc do Trung Quốc không phải là thành viên của TPP và hàng hóa của Trung Quốc đang bị đánh thuế theo cơ chế WTO, mức thuế này cao hơn rất nhiều so với mức thuế trong TPP.

Ngọc Thành

Từ khóa: dệt may, phụ thuộc, hội nhập, doanh nghiệp

 

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008742785
Go to top