JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTin trong nướcKỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII: Thông qua các luật có liên quan đến vấn đề kinh tế

Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII: Thông qua các luật có liên quan đến vấn đề kinh tế

Ngày 20/11, Quốc hội đã biểu quyết, thông qua các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, Luật Quản lý thuế, Luật Dự trữ quốc gia và Luật Hợp tác xã (sửa đổi).

Với số đại biểu tán thành là 91,16%, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Luật quy định, giá bán điện thực hiện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước phù hợp với cấp độ phát triển của thị trường điện lực. Thực hiện cơ cấu biểu giá bán lẻ điện hợp lý đối với các nhóm khách hàng. Nhà nước hỗ trợ giá bán lẻ điện cho mục đích sinh hoạt đối với hộ nghèo, hộ chính sách xã hội theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội từng thời kỳ. Bảo đảm quyền tự quyết định giá mua, bán điện trong khung giá, cơ cấu biểu giá bán lẻ điện do Nhà nước quy định của các đối tượng mua bán điện trên thị trường điện lực.

Giá bán lẻ điện sẽ do đơn vị bán lẻ điện xây dựng căn cứ khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp với cấp độ phát triển của thị trường điện lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Việc điều chỉnh giá bán lẻ điện phải được thực hiện công khai, minh bạch về sự biến đổi của các yếu tố cấu thành liên quan đến việc điều chỉnh giá. Nhà nước sử dụng các biện pháp để bình ổn giá bán điện phù hợp với quy định của pháp luật về giá.

Đối với Luật Quản lý thuế, Luật giữ nguyên quy định hiện hành về ân hạn đối với hàng hóa nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu nhưng có phân loại doanh nghiệp để áp dụng ân hạn. Việc sửa đổi, bổ sung này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác, cũng bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giữ nghiêm kỷ luật tài chính, ngăn chặn các hành vi chây ỳ, trốn thuế, gây thất thu cho Ngân sách nhà nước. Luật cũng quy định rõ các trường hợp thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau và thời hạn kiểm tra sau hoàn thuế đối với hồ sơ hoàn thuế trước, kiểm tra sau. Theo đó, thực hiện kiểm tra trong vòng một năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế đối với 4 trường hợp rủi ro cao, có biểu hiện gian lận về thuế nhằm ngăn chặn và hạn chế tình trạng trốn lậu, gian lận thuế. Các trường hợp còn lại chủ yếu là các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về thuế và hải quan thì áp dụng kiểm tra theo cơ chế quản lý rủi ro, trong đó có tính đến giá trị tiền thuế được hoàn.

Luật Dự trữ quốc gia có 6 chương, 66 điều cũng đã được thông qua với 94,58% kiến tán thành. Để bảo đảm tính chặt chẽ trong tổ chức thực hiện, tránh mở rộng mục tiêu, vận dụng tuỳ tiện, Luật đã bỏ quy định: thực hiện các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách khác và không bổ sung mục tiêu bình ổn thị trường như trong dự thảo. Luật quy định mục tiêu của dự trữ quốc gia (DTQG) là Nhà nước hình thành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh.

Về mặt hàng thuộc danh mục hàng dự trữ quốc gia phải là mặt hàng chiến lược, thiết yếu, có tần suất sử dụng nhiều, có tác dụng ứng phó kịp thời trong tình huống đột xuất, cấp bách; là mặt hàng đặc chủng, không thể thay thế; là vật tư, thiết bị, hàng hóa bảo đảm quốc phòng, an ninh mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, chủng loại. Trong trường hợp cần điều chỉnh danh mục hàng dự trữ quốc gia, Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Luật Hợp tác xã (sửa đổi) quy định Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất bảy thành viên tự nguyện thành lập. Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất bốn hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã. Luật cũng bổ sung khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Việc định nghĩa bản chất hợp tác xã có ý nghĩa quyết định đến việc quy định các nội dung về tổ chức và hoạt động hợp tác xã như: mục tiêu, lợi ích, quyền, nghĩa vụ của thành viên; cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, vốn, tài sản và xử lý tài sản khi giải thể của hợp tác xã...


Đỗ Thảo Nguyên / TTXVN

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008742009
Go to top