Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) vừa tiến hành điều tra môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Bản báo cáo về vấn đề này vừa được CIEM công bố hôm giữa tuần với tiêu đề “Kết qủa điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2011”.
Theo CIEM, cuộc điều tra lần này được tiến hành với gần 2.500 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hoạt động trong lĩnh vực chế biến. Báo cáo đã tập trung phân tích một cách toàn diện môi trường kinh doanh ở Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, trong đó có sự phân tích sâu sắc các vấn đề tăng trưởng lao động, vấn đề đầu tư và tiếp cận tài chính, năng lực DN...
Cụ thể, v ề đầu tư và tiếp cận tài chính, cuộc điều tra cho thấy, các DNNVV có sự giảm sút trong lĩnh vực này. Số liệu cho thấy có ít DN đầu tư mới hơn so với năm 2009 (giảm từ 61% xuống 56% năm 2011). Theo nhận định, kết quả này có thể là do ảnh hưởng của tình hình kinh tế khó khăn. Có 444 DN trong tổng số gần 2.000 DN cho biết không tiến hành đầu tư mới trong 4 năm qua.
Khó khăn trong thị trường tín dụng được xem là rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của các DN. Điều tra cho thấy có sự giảm sút xuống mức 47% năm 2011 so với 52% của năm 2009. Cụ thể gần 39% DN có thể được coi là gặp khó khăn về tín dụng. Con số này tương tự như tỷ lệ quan sát được trong năm 2009. Mặt khác, số lượng DN có các khoản vay phi chính thức nhiều gấp đôi so với các DN có các khoản vay chính thức. Gần 90% các DN có khó khăn tại thị trường tín dụng chính thức cho biết có tiếp cận với các khoản vay từ nguồn phi chính thức. Bên cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra các DN hộ gia đình có xu hướng vay tín dụng phi chính thức thấp hơn.
Kết quả trên có thể khẳng định nhu cầu tín dụng của các DNNVV vẫn rất cao. Các rào cản tín dụng đối với DNNVV chưa được cải thiện nhiều, hay nói chính xác hơn, các chính sách hỗ trợ cho DN khu vực này vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng. Phải chăng các ngân hàng chưa thực sự có những sản phẩm tín dụng phù hợp cho khối DN này?
Về tăng trưởng việc làm, nghiên cứu tiến hành trên 1.999 DNNVV cho thấy, tổng số lao động toàn thời gian giảm 6,2% trong giai đoạn hai năm. Có khoảng 60% số DNNVV giảm số lượng lao động cố định.
Tuy nhiên, báo cáo cũng cho hay, đã có có sự cải tiến chung về năng suất lao động trong các DNNVV. TS Nguyễn Trọng Hiệu, Phó Cục trưởng Cục Phát triển DN (Bộ KH và ĐT), cho rằng dấu hiệu này cần được đánh giá sâu sắc để tìm lời giải cho chính sách phát triển kinh tế khi thực hiện tái cơ cấu kinh tế theo hướng tăng trưởng nhanh và bền vững theo Chiến lược phát triển đến năm 2020.

Báo cáo đã đưa ra một phát hiện hết sức bất ngờ - đó là các DN bỏ ra nhiều chi phí không chính thức (hối lộ) không tạo ra nhiều lao động hơn so với các DN không đưa hối lộ. Phải chăng hàm ý ở đây là, những DN làm ăn “không bài bản” có vẻ như sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc việc phải bỏ ra các chi phí không chính thức. Ngược lại, các DN làm ăn chân chính cũng vẫn có thể phát triển một cách bình thường. "Điều này chứng tỏ, môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã có nhiều cải thiện trong những năm gần đây" - TS Phạm Thị Thu Hằng (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) lưu ý.
Có một sự thay đổi lớn quy mô của các DN theo thời gian. Qua số liệu phân tích từ báo cáo cho thấy, các DN siêu nhỏ với từ 1 đến 9 lao động có xu hướng tiếp tục là các DN nhỏ. Có tới 93% số DN trong nhóm này trong năm 2009 vẫn tồn tại trong nhóm trong năm 2011. Quan sát các nhóm DN quy mô nhỏ và nhóm các DN vừa, các DN này có xu hướng giảm về phân bố quy mô theo thời gian.
Sự ảnh hưởng của những yếu tố truyền thống đến xác suất DN thoát khỏi thị trường được xem xét theo địa bàn, hình thức pháp lý và quy mô. Trong tổng số 2.508 DN được triển khai điều tra năm 2009, có khoảng 20% đã đóng cửa sau hai năm sau. Điều này đồng nghĩa với việc tỷ lệ thoát khỏi thị trường của DN là 9,7%.
TS Hằng cho biết, kết quả điều tra cho thấy các DNNVV có xác suất thoát khỏi thị trường thấp hơn các DN siêu nhỏ. Như vậy có thể nhận định việc khởi sự một DN đã khó, nhưng việc quan trọng hơn là phải tăng cường được khả năng kinh doanh của cá DN siêu nhỏ.
Về việc cải tiến các sản phẩm, có 40% (800 trong tổng số 1.998 DN) cho biết không cải tiến sản phẩm hiện tại trong 4 năm được nghiên cứu. Bên cạnh đó, 31% DN không cải tiến sản phẩm hiện tại trong năm 2009 có thực hiện thay đổi với các sản phẩm trong năm 2011. Như vậy việc các DN cải tiến sản phẩm có xu hướng giảm, đây là một vấn đề đáng báo động.
TS Phạm Thị Thu Hằng nhận định, trong bối cảnh hiện nay, khi thị trường của các DNNVV chủ yếu là thị trường nội địa và vấn nạn hàng nhập lậu vẫn còn nhức nhối thì việc cải tiến sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường này là vô cùng quan trọng. Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài thì rất có thể các DNNVV sẽ phải sớm rút lui khỏi thị trường. Thực tế cho thấy, trong 9 tháng đầu năm 2012, vấn đề tồn kho là một vấn đề lớn và đã có trên 42.000 DN phải ngừng hoạt động và giải thể.
Vì vậy, theo nhiều chuyên gia, DNNVV đang đứng trước thách thức đối với sự phát triển. Do quy mô nhỏ, khu vực này phải luôn được quan tâm từ hai góc độ cải thiện môi trường kinh doanh nói chung để giảm chi phí gia nhập thị trường và thực hiện chính sách hỗ trợ riêng biệt cho DNNVV để khu vực này tăng trưởng và phát triển, tiếp cận nguồn lực bình đẳng với DN lớn.
Có thể nói các chính sách hậu khủng hoảng đã được Chính phủ xây dựng và thực thi nhằm duy trì sức cạnh tranh của các DN nói chung và khối DNNVV nói riêng. Tuy nhiên, với những kết quả từ báo cáo này, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu chính sách để từ đó nâng cao khả năng hỗ trợ hiệu qủa sự phát triển dài hạn của khu vực DN này.
Quang Toàn/ TTXVN
Từ khóa: Doanh nghiệp, nhỏ và vừa, cần, hỗ trợ, riêng biệt
Các tin khác
- Kết nối doanh nghiệp Việt Nam với thị trường Phần Lan - 25/11/2012
- Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực CNTT-TT - 25/11/2012
- Sáu doanh nghiệp cá tra Việt Nam đầu tiên đạt tiêu chuẩn nuôi trồng thủy sản bền vững ASC - 25/11/2012
- Xây dựng Luật Phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai: Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế và khu vực - 25/11/2012
- Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng công nghệ khoa học vào sản xuất - 25/11/2012






















