Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) vừa phối hợp tổ chức hội nghị “Chia sẻ kinh nghiệm quản lý rủi ro do thiên tai” nhằm tiếp thu những ý kiến đóng góp từ kinh nghiệm quốc tế và khu vực trong việc quản lý rủi ro thiên tai, phục vụ các vị đại biểu Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai tại kỳ họp thứ tư và thông qua vào kỳ họp thứ năm (5/2013).
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Cao Đức Phát cho biết, Việt Nam đang cảm nhận rõ rệt sự tác động của biến đổi khí hậu. Việt Nam cũng đã có nhiều kinh nghiệm trong công tác phòng chống thiên tai. Tuy nhiên, môi trường tại Việt Nam đã thay đổi, điều kiện kinh tế xã hội cũng có sự thay đổi, do đó cần quan tâm, thường xuyên nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với cộng đồng quốc tế để kịp thời ứng phó với những biến đổi đó.
Theo Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Việt Nam là một trong 10 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của thiên tai. Thiên tai ngày càng trở nên khốc liệt và diễn biến bất thường trong điều kiện biến đổi khí hậu. Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều loại thiên tai như áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn, động đất...
Ông Nguyễn Vinh Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội: cho rằng, thiên tai tại Việt Nam rất đa dạng, mang tính đặc thù vùng miền. Trong đó, miền Bắc chủ yếu là lũ, lốc, lụt, động đất, sạt lở đất, lũ quét; miền Trung: bão, lũ, lụt; miền Nam : nước dâng, xâm nhập mặn và sạt lở bờ sông... Do vậy, trong phòng chống thiên tai, cần quan tâm tới vấn đề quy hoạch đất, dân cư vùng thường xuyên bị thiệt hại do thiên tai, di dời và ổn định đời sống. Ngoài ra, vấn đề bảo hiểm do thiên tai cũng cần được quan tâm. Kinh nghiệm từ nước Mỹ cho thấy, cơn bão Sandy vừa qua mức thiệt hại ước tính khoảng 30 – 50 tỷ USD, số tiền các công ty phải chi trả ước tính từ 10 – 20 tỷ USD. Ở Nhật Bản, sự cố động đất và sóng thần tại Fukushima (3/2011) gây thiệt hại ước tính 197 – 308 tỷ USD và số tiền các công ty bảo hiểm phải chi trả ước tính từ 21 – 34 tỷ USD.
Trong Dự thảo Luật có quy định “Nhà nước có chính sách khuyến khích doanh nghiệp được phép thành lập và hoạt động kinh doanh loại hình bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam ”. Ông Hà cho rằng: trong điều kiện Việt Nam , Luật cần quy định cụ thể hơn về chính sách ưu đãi doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thiên tai vì bảo hiểm thiên tai có rủi ro cao.
Tuy nhiên, để phòng chống và giảm nhẹ được sức tàn phá của thiên tai, vấn đề quan trọng nhất vẫn là những thông tin cảnh báo. Ông Hà cho rằng: cần quy định trong Luật về “xác định cấp độ rủi ro thiên tai” và “cấp độ cảnh báo thiên tai”; cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan cảnh báo và mức độ cảnh báo. Thực tiễn khảo sát ở Quảng Bình cho thấy, khi UBND tỉnh quyết định di dời dân khỏi vùng bị ảnh hưởng của bão, người dân không tuân thủ vì trước đó đã có một số lần cảnh báo sai gây tốn kém cho người dân. Cùng với đó, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, đánh giá rủi ro thiên tai và mạng lưới cung cấp thông tin.
Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về quản lý rủi ro thảm họa, bà Louise Chamberlain, Giám đốc Quốc gia UNDP cho rằng: Luật cần bao hàm tất cả các thành tố và giai đoạn của quản lý rủi ro thảm họa, từ giảm nhẹ và chuẩn bị sẵn sàng, ứng phó tới khắc phụ. Đầu tư có hệ thống nhằm đảm bảo sự sẵn sàng và khả năng chống chọi sẽ giảm thiểu thiệt hại về người và của do thảm họa gây ra với xã hội. Luật cần nêu rõ tiêu chí và trách nhiệm để tuyên bố tình trạng khẩn cấp và kêu gọi sự hỗ trợ từ bên ngoài để giúp đỡ các khu vực bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, để triển khai hiệu quả một đạo luật cần mở rộng vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tăng cường hơn nữa nguồn nhân lực cho các cơ quan phụ trách quản lý rủi ro thảm họa.
Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe về mô hình và bài học kinh nghiệm phòng chống thiên tai của một số quốc gia như: Bănglađét, Indonesia, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Mỹ. Từ kinh nghiệm của Indonesia về Luật Quản lý thảm họa, theo tiến sĩ Puji Pujiono, vai trò và trách nhiệm chính vẫn thuộc về cộng đồng. Sau 5 năm thực hiện Luật Quản lý thiên tai cho thấy một số vấn đề Luật cần làm rõ: về nội dung, thiên tai hay tất cả các rủi ro, kể cả biến đổi khí hậu? Về pháp lý, cơ quan trung ương hay các nhiệm vụ chuyên ngành; cấp quốc gia hay địa phương? Trong quá trình thực hiện cho thấy, Indonesia vẫn còn thiếu ngòi nổ cho việc ứng phó khẩn cấp.
Góp ý cho dự thảo Luật, chuyên gia Pháp lý UNDP Phan Mạnh Tuấn cho rằng: cơ sở pháp lý và thể chế trong phòng chống thảm họa cần phải đề cập đầy đủ và toàn diện về vấn đề thông tin và cảnh báo sớm. Luật Phòng, chống thảm họa của Việt Nam cần đưa vào một số điều trong chương về Giảm nhẹ về hệ thống cảnh báo sớm. Việt Nam đã có tương đối đầy đủ cơ sở pháp lý và tổ chức để có thể lồng ghép các hoạt động phòng chống rủi ro, thảm họa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, điều quan trọng để lồng ghép này thành công thì nguồn lực (nhân lực, vật lực cũng như ngân sách) cho công tác này còn hạn chế.
Bích Hồng / TTXVN
Các tin khác
- Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng công nghệ khoa học vào sản xuất - 25/11/2012
- Cơ hội đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp tại Bang Sachen – CHLB Đức - 25/11/2012
- Thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam – Ukraina - 25/11/2012
- Việt Nam đã xuất khẩu hơn 6,7 triệu tấn gạo - 23/11/2012
- Việt Nam cam kết tăng cường và mở rộng đối thoại về hợp tác phát triển - 21/11/2012






















