Hiện nay, một số ngành sản xuất vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do sản xuất đình trệ, lượng hàng tồn kho tăng cao, Tập đoàn Công nghiệp than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cũng không là ngoại lệ. Từ đầu năm đến nay, lượng than tiêu thụ thấp đã ảnh hướng không ít tới đời sống công nhân thợ mỏ; thu nhập của lao động phụ trợ, gián tiếp có thể giảm đến 15% trong năm nay. Đặc biệt, những khó khăn này cũng ảnh hưởng đến việc đầu tư các dự án mỏ của ngành than.
Lãnh đạo Vinacomin cho biết: mỗi năm ngành này cần khoảng 40 nghìn tỷ đồng đầu tư vào các dự án mỏ, trong khi đó lượng than khai thác không tiêu thụ được khiến Tập đoàn gặp nhiều khó khăn. Một trong những nguyên nhân là do các hộ mua than lớn giảm mạnh lượng mua so với khối lượng đã ký hợp đồng từ cuối năm 2011 khiến lượng than tồn kho tăng cao . Tính đến hết tháng 8, các doanh nghiệp thành viên của Vinacomin tồn kho gần 7 triệu tấn, trong đó, than tiêu chuẩn Việt Nam gần 5,2 triệu tấn; xuất khẩu giảm, ước đạt 8,7 triệu tấn, bằng 76,2% cùng kỳ. Theo dự báo từ Cục Điều tiết điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện đốt than có thể tiếp tục giảm trong những tháng tới và đi ều này sẽ ảnh hưởng tới việc tiêu thụ than trong nước của Vinacomin.
T heo tính toán của ngành than, trong bối cảnh giá xuất khẩu giảm, mức thuế xuất khẩu 20% như hiện nay thì giá thành than xuất khẩu còn cao hơn giá bán. Trong khi đó, các nước có sản lượng sản xuất than lớn trên thế giới đã có chính sách giảm thuế nhằm tăng lượng xuất khẩu than tại các nước này, cụ thể như Inđônêxia sản xuất khoảng 340 triệu tấn/năm, xuất khẩu khoảng 280 triệu tấn/năm, thuế xuất khẩu là 0%; Ôxtrâylia có sản lượng tương đương Inđônêxia, thuế xuất khẩu cũng là 0%; Trung Quốc sản xuất trên 3 tỷ tấn/năm, vừa xuất khẩu và nhập khẩu than hàng trăm triệu tấn/năm, thuế xuất khẩu than 10%; Mông Cổ thuế suất xuất khẩu than tối đa không quá 7%; Nga thuế xuất khẩu 5%. Theo dự báo, giá than thế giới tiếp tục có xu hướng giảm do kinh tế thế giới chưa phục hồi, cung về than vượt cầu. Vì vậy, nếu duy trì mức thuế xuất khẩu than là 20% thì Tập đoàn sẽ khó cạnh tranh xuất khẩu, ảnh hưởng đến sản xuất cũng như tiến độ các dự án trọng điểm.
Trong bối cảnh đầu ra khó khăn, m ặc dù Tập đoàn đã tiết giảm chi phí nhưng cũng không thể bù lại lượng tồn kho cao cũng như giá xuất khẩu giảm. Để giải quyết bài toán trên, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã điều chỉnh giảm giá bán than cho các hộ tiêu thụ trong nước ( trừ hộ điện vẫn đang bán thấp hơn giá thành bởi giá bán than cho ngành điện mới chỉ bằng 50 - 60% giá thành sản xuất) với mức giảm từ 80.000- 180.000 đồng/tấn ; đ ồng thời tiếp tục đàm phán, thỏa thuận với các đối tác để tìm kiếm các hợp đồng xuất khẩu mới (tổng số hợp đồng tiêu thụ than trong tháng 8 đã được ký lại và ký thêm trên 3 triệu tấn than các loại). Cùng với động thái trên, Vinacomin kiến nghị giảm thuế xuất khẩu than từ 20% hiện nay xuống 10%.
Theo Vinacomin, nếu giảm mức thuế xuất khẩu xuống 10%, ngoài việc tạo điều kiện cho Tập đoàn tăng lượng than xuất khẩu, giảm tồn kho, còn giải quyết được việc làm cho người lao động, tránh ảnh hưởng đến đời sống của công nhân ngành than và người dân vùng mỏ với gần 11 vạn người. Cùng với đó Tập đoàn cũng cân đối được tài chính để thực hiện được việc đầu tư để sản xuất than theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Ông Nguyễn Khắc Thọ, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), cho biết: hiện nay các hộ sử dụng than trong nước hầu hết đều giảm nhu cầu sử dụng. Đặc biệt các nước trên thế giới như Trung Quốc là thị trường lớn cũng tồn một lượng than lớn. Trước đây, quan điểm của ngành than là phải đáp ứng được nhu cầu trong nước và nhà nước tăng thuế xuất khẩu để hạn chế xuất khẩu than, chỉ xuất khẩu những loại than trong nước không dùng. Hiện nay, ngành than được Nhà nước quản lý xuất khẩu bằng công cụ thuế. Theo kế hoạch năm nay ngành than xuất khẩu 14,5 triệu tấn, nghĩa là trên cơ sở hài hòa giữa nguồn thu của Nhà nước với điều kiện của doanh nghiệp, còn chúng ta quản lý khối lượng than xuất khẩu bằng kế hoạch thì nếu có giảm thuế xuất khẩu xuống 0% thì lượng than xuất khẩu tối đa chỉ 14,5 triệu tấn mà có tăng thuế lên hay giữ nguyên mức cũ thì lượng than xuất khẩu cũng vậy. Hiện khối lượng than tồn kho rất cao đã ảnh hưởng đến môt số mục tiêu lớn là công ăn việc làm của người công nhân mỏ và vốn để tái đầu tư mở rộng sản xuất mỏ. Bộ Công Thương đã báo cáo Chính phủ về vấn đề này, trên cơ sở đó Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì phối hợp với cơ quan liên quan xem xét đề xuất tăng giá than cho điện cũng như giảm thuế xuất khẩu than tương ứng với các nước trong khu vực. “Nếu không giải quyết được bài toán xuất khẩu này thì khả năng cạnh tranh thị trường trong nước cũng như trên thế giới là rất khó, trên cơ sở đó sẽ không giải quyết được vấn đề tồn kho cũng như khó khăn của ngành than hiện nay” - ông Nguyễn Khắc Thọ khẳng định./.
Hằng Trần/TTXVN
Các tin khác
- Khắc phục lỗ hổng trong cơ chế quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất - 17/09/2012
- Thị trường phân bón trong nước ổn định - 16/09/2012
- Xuất khẩu thủy sản: Kỳ vọng bứt phá những tháng cuối năm - 10/09/2012
- Bà Rịa-Vũng Tàu tìm giải pháp thu hút đầu tư FDI - 10/09/2012
- Bảo vệ người tiêu dùng còn lắm gian nan - 10/09/2012






















