Tiếp tục phát triển trong nghiên cứu khoa học và kỹ thuật sẽ thúc đẩy xuất khẩu thủy sản đạt đến 8 tỷ USD vào năm 2020.d
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Phó Tổng cục Thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD), đã nói rằng nuôi trồng thủy sản trong nước đã mở rộng nhiều và sản lượng tăng 15% trung bình mỗi năm trong thời gian gần đây.
Với 1,1 triệu ha diện tích đất nuôi trồng thủy sản, Việt Nam đã sản xuất gần 2,8 triệu tấn thủy sản với trị giá xuất khẩu 4,94 tỷ USD hồi năm ngoái.
Nghiên cứu khoa học công nghệ nuôi trồng thủy sản gần đây đã làm tăng chất lượng giống thủy sản như sản sinh thế hệ thứ hai của cá tra, vốn tăng trưởng 13% - nhanh hơn so với lần đầu, sản xuất tôm sú mẹ để cắt giảm sự phụ thuộc vào phát triển tôm tự nhiên và nhập khẩu tôm mẹ và sử dụng công nghệ vi phẫu cho sản xuất giống tôm đực càng xanh phát triển nhanh.
Nghiên cứu về chất lượng giống thủy sản và công nghệ nuôi trồng trong nước đã vượt quá mức khu vực. Ví dụ, sản lượng cá tra đã đạt được 150-400 tấn/ha (trung bình 200 tấn/ha), Việt Nam là quốc gia duy nhất nuôi cá với năng suất cao trong các ao nước lớn.
Việt Nam và Ấn Độ là các nước đi đầu trong công nghệ sản xuất hàng loạt tôm đực càng xanh và tôm càng trắng, với năng suất 20-25 tấn/ha/vụ - nhiều như Trung Quốc và Thái Lan.
Mặc dù vậy, ông Tuấn nói rằng công nghệ này đang phải đối mặt với những trở ngại liên quan đến việc nuôi trồng rải rác, cơ sở hạ tầng không đầy đủ và tiêu thụ nước cao tại Việt Nam.
Rất ít các vùng nuôi đáp ứng được các tiêu chuẩn của Thực hành nông nghiệp tốt (GAP). Nông dân nuôi cá tra đã phàn nàn rằng họ phải đáp ứng 23 tiêu chuẩn khác nhau nhưng không có "tiêu chuẩn vàng" để phù hợp với tất cả các nhà nhập khẩu hiện tại.
Nguy cơ bệnh tật và chi phí sản xuất cao đã làm giảm hiệu quả sản xuất, các nông dân nuôi tôm năm nay đã phải đối mặt với thua lỗ ngày càng tăng do điều kiện thời tiết khắc nghiệt làm lây lan bệnh.
Bảo tồn giống tôm nguyên thủy ban đầu là chìa khóa để cải thiện chất lượng giống thủy sản, ông Tuấn giải thích, và nghiên cứu thức ăn chăn nuôi và vắc xin cũng như ứng dụng trong sản xuất đang thiếu.
Việt Nam có thể xuất khẩu 8 tỷ USD vào năm 2020 nếu như phát triển quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản, chuyển giao công nghệ, đầu tư trong hệ thống thủy lợi, kiểm soát và áp dụng giống mới, quản lý các tiêu chuẩn môi trường và các bước tuân theo thực hành tốt.
Ông Tuấn nói rằng với bờ biển dài 3.200 km, Việt Nam có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thuỷ sản. Nghiên cứu là cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện chất lượng giống tốt, thiết lập hệ thống gây giống hiệu quả.
Ngoài ra, cần phải nghiên cứu công nghệ thức ăn chăn nuôi và cơ chế quản lý chất lượng thủy sản và giá thức ăn chăn nuôi. Thức ăn làm tăng 70% chi phí sản xuất.
Các đề án quy hoạch ngành thủy sản nhấn mạnh chất lượng và năng suất nhưng quản lý và đầu tư nhà nước vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém.
Dẫn theo http://www.itpc.gov.vn






















