(VEN) - “Cú phốt” chè bẩn đã giáng một đòn mạnh vào tâm lý người tiêu dùng trong nước. Nhiều người đã quay lưng lại với thói quen uống chè. Nhưng tình hình xuất khẩu chè thời gian tới được dự báo vẫn tương đối khả quan do không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự cố này.
Tuy nhiên về lâu dài, ngành chè và các cơ quan chức năng tiếp tục phải giải quyết nhiều vấn đề nếu không muốn tái diễn tình trạng chè bẩn như vừa qua. Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng - Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas) chia sẻ những quan điểm trên trong cuộc trao đổi với PV Báo Kinh tế Việt Nam…
Thưa bà, sau khi VTV1 phát sóng những hình ảnh khó coi về sản xuất chè bẩn của một số hộ dân trồng chè tại Yên Bái, quan điểm chính thức của Hiệp hội Chè Việt Nam về chuyện này như thế nào, thưa bà?
Tôi cho rằng, VTV1 đã tiếp cận vấn đề và chuyển tải sự việc…quá muộn. Tuy nhiên lại gây những ảnh hưởng tiêu cực cho ngành chè. Thực tế, sự việc chè bẩn này đã xảy ra trước thời điểm VTV1 phát sóng 1 tháng. Ngay sau khi nhận được tin báo của các hội viên về việc này, Hiệp hội Chè Việt Nam đã cử ngay đoàn công tác đi kiểm tra trước và về báo cáo Bộ NPTNT để tìm hướng xử lý. Tiếp đó, Bộ NNPTNT đã cử một đoàn liên ngành đi kiểm tra tại Yên Bái, Tuyên Quang…và bắt đóng cửa một loạt hộ dân sản xuất chè tự phát, một số lượng chè bẩn thậm chí đã bị đốt tại chỗ…
Qua sự việc vừa qua, quan điểm của Hiệp hội Chè Việt Nam là việc phản ánh của báo chí nói chung và VTV nói riêng có tính hai mặt. Một mặt cảnh tỉnh người dân, kêu gọi lãnh đạo quan tâm hơn đến việc quản lý, giám sát chất lượng. Nhưng mặt khác nếu không đưa tin “đủ liều lượng” sẽ tạo ra phản ứng xấu của người uống chè. Nhiều cuộc điện thoại đã gọi đến hiệp hội “tẩy chay” không uống chè nữa. Nhiều cửa hàng giới thiệu sản phẩm của Hiệp hội những ngày qua đều trong cảnh đìu hiu.
Sau sự cố đáng tiếc nói trên, ngành chè đã có kế hoạch cụ thể nào để khôi phục hình ảnh hay chưa?
Đến lúc này, Hiệp hội Chè đã có kế hoạch, đặc biệt là đề xuất phải có những chỉ thị mạnh, kể cả chỉ thị từ Thủ tướng Chính phủ để quy trách nhiệm cụ thể đến từng tỉnh và lãnh đạo các tỉnh trồng chè. Nếu để tái diễn sản xuất chè bẩn, lãnh đạo tỉnh đó phải chịu trách nhiệm, chứ không thể chung chung như vừa qua được.
Hiệp hội cũng đề nghị công an vào cuộc ngăn chặn. “Gốc rễ” là làm sao nâng cao ý thức cho các hộ nông dân trồng chè để họ sản xuất chè sạch. Hiện tại, một số doanh nghiệp đã kết hợp cùng các hộ trồng chè mạnh dạn đầu tư chứng chỉ UTZ với khẩu hiệu “Good Inside” (tốt từ bên trong) nhằm đạt các tiêu chí cơ bản về dư lượng thuốc trừ sâu, bền vững hài hoà với môi trường; san sẻ lợi nhuận cho người trồng và chế biến, đảm bảo hài hoà xung quanh, trồng cây bóng mát trên đồi chè; đảm bảo chất lượng chè nguyên liệu…
Tới đây, Hiệp hội cũng xác định phải tuyên truyền mạnh mẽ hơn hình ảnh chè sạch. Đây là công việc thường xuyên, hàng ngày của Hiệp hội nhưng trong thời gian tới sẽ phải làm kỹ càng hơn để người dân biết rõ hơn về khái niệm chè sạch…
Thưa bà, việc những hình ảnh chè bẩn bị tung lên mạng cùng những khuyến cáo tiêu cực, liệu có ảnh hưởng lớn đến tình hình xuất khẩu chè Việt Nam sang các thị trường truyền thống hay không?
Nói không ảnh hưởng thì không đúng. Nhưng ảnh hưởng rất ít bởi phần lớn các thị trường trọng điểm như Đài Loan, Nga, Pakistan đều đã có mối quan hệ chặt chẽ và hợp đồng dài hạn hàng năm với ta. Hơn nữa, ngành chè thế giới cũng giống như một ngôi làng, tất cả đều đã biết rõ về nhau. Tuy vậy có thể thời gian tới, khi chúng ta gửi mẫu hàng sang các thị trường này thì việc kiểm tra có thể lâu hơn và sản lượng xuất khẩu có thể giảm. Qua cơn “bĩ cực” này, tình hình sẽ tốt hơn lên. Đây chính là một quá trình sàng lọc tự nhiên.
Bà có thể cho biết cụ thể hơn tình hình xuất khẩu chè trong thời gian qua?
Hiện số liệu chính thức Hiệp hội vẫn đang cập nhật từ phía hải quan. Tuy nhiên trong 6 tháng năm 2011, ngành chè đã xuất khẩu 48 nghìn tấn, hiện tại ước đạt 50 nghìn tấn. So về lượng có giảm 4% nhưng tăng hơn gần 2 triệu USD so với cùng kỳ. Năm nay thị trường chè xanh tiêu thụ tốt hơn chè đen với mức giá chè xanh xuất khẩu hiện đạt 2,6 USD/kg, trong khi giá xuất của chè đen chỉ 1,4 – 1,5 USD. Đài Loan vẫn đang là thị trường số 1, thị trường Nga giảm chút ít, thị trường Pakistan tăng. Cả 3 thị trường này đã nhập 7.000 tấn. Tiếp đến là thị trường Indonesia, Iran, Apganistan, Thổ Nhĩ Kỳ…
Năm nay ngành chè chủ yếu xúc tiến thương mại trong nước thông qua các hội thảo, xúc tiến về chất lượng là chính. Hiện nay chè Việt Nam đã có mặt tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ do đó về thị trường không thiếu. Vấn đề là làm sao phải cơ cấu sản phẩm đều, hợp lý hơn giữa các doanh nghiệp, đồng thời chú trọng vào chất lượng và công nghệ...
Vâng, xin cảm ơn bà!
Theo Dẫn theo Ven.vn
Các tin khác
- Hiện đại hóa hải quan để thúc đẩy thương mại và đầu tư - 19/02/2012
- Thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo hướng đến phát triển bền vững - 19/02/2012
- Những thuận lợi khi xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà - 19/02/2012
- Phát triển 3.000 doanh nghiệp khoa học giai đoạn 2011-2015 - 19/02/2012
- Doanh nghiệp nước ngoài tiếp tục than phiền về Nghị định 46 - 19/02/2012






















