Dư thừa công suất, tiêu thụ giảm mạnh nên lượng thép tồn kho lớn, cùng với đó lãi suất ngân hàng cao, nguyên vật liệu và chi phí cho sản xuất tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp thép phải sản xuất cầm chừng để tồn tại, thậm chí là phá sản. Điều này đang đặt ra cho ngành thép yêu cầu phải sớm tái cấu trúc lại.
Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) Phạm Chí Cường, cho biết: hiện ngành thép chỉ có khoảng 30 doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, nhưng có tới khoảng 100 doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa và nhỏ, công suất từ 200.000-300.000 tấn/năm, chỉ 2-3 nhà máy có công suất trên 500.000 tấn/năm, trang thiết bị công nghệ không đạt mức tiên tiến, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng lớn, nên giá thành cao. Chính điều này khiến các doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh khi hội nhập sâu với kinh tế khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, do được phân cấp, nhiều dự án thép do các địa phương cấp phép đầu tư không đủ điều kiện để vận hành ổn định như thiếu nguyên liệu quặng sắt, điện, nước, giao thông vận tải khó khăn… có nơi chỉ sản xuất được vài tháng đã phải ngừng hoạt động. Cùng với đó là vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý các sản phẩm gây ô nhiễm không được chú trọng đầu tư hoặc không đủ vốn và kiến thức để lường trước những tác động đến môi trường, nên có trường hợp nhà máy xây dựng xong bị địa phương phản đối, không cho sản xuất, gây lãng phí lớn. Theo ông Cường, nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp thép không phải bây giờ mới được nhắc tới, mà điều này đã được các chuyên gia cảnh báo ngay từ khi có quy hoạch ngành. Chính sự tăng trưởng nóng đã phá vỡ quy quy hoạch ngành, cung vượt xa cầu, góp phần đẩy ngành thép vào cơn bĩ cực như hiện nay.
Bên cạnh những tồn tại và thiếu hiệu quả của các dự án đầu tư vào ngành thép trong thời gian qua, bước sang năm 2011, ngành thép lại chịu nhiều tác động từ những biến động của nền kinh tế thế giới và trong nước. Đó là giá nguyên vật liệu của ngành thép như quặng sắt, than cốc, phôi thép và thép phế... tăng hoặc giữ giá ở mức cao hơn so với năm 2010 từ 20 - 30%. Tình hình lạm phát trong nước tăng cao bất thường buộc Chính phủ phải áp dụng nhiều biện pháp để kiềm chế, đặc biệt là chính sách thắt chặt tín dụng của ngân hàng đối với các dự án bất động sản, đã gây ra tình trạng “đóng băng” trong nhiều dự án đầu tư trong cả nước, dẫn tới tiêu thụ thép giảm dần trong nửa đầu năm 2011.
Cùng với đó, tình trạng cung vượt cầu trong ngành thép, đặc biệt trong sản xuất thép xây dựng những tháng gần đây đã làm cho nhiều nhà máy phải ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng (chỉ vận hàng 50-60% công suất) do không bán được hàng. Ông Phạm Chí Cường khẳng định, với mức lãi suất cao 20 - 22% như hiện tại, nhiều đơn vị sản xuất và kinh doanh thép sẽ không thể bảo đảm kinh doanh có hiệu quả đủ để trả lãi vay ngân hàng. Trong khi, lượng thép thành phẩm tồn kho trong nhà máy hiện nay tăng cao, lên đến 600.000 tấn, chi phí trả lãi vay ngân hàng làm cho sản phẩm tồn kho mỗi tháng phải trả từ 200 - 300.000 đồng/tấn, nhưng giá bán thép không thể tăng do tiêu thụ chậm.
Để khắc phục những tồn tại của ngành thép, Hiệp hội Thép Việt Nam đã kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan quản lý một số giải pháp. Trong đó, cần chấn chỉnh việc cấp phép đầu tư các dự án thép ở các địa phương. Kiên quyết thu hồi giấy phép các dự án không có trong quy hoạch và không thực hiện các thủ tục quy định đầu tư mà Chính phủ đã ban hành. Đối với các dự án sản xuất thép xây dựng, ống thép, thép cán nguội, thép mạ kim loại và tôn phủ màu đã dư thừa công suất gần gấp đôi so với nhu cầu hiện tại, cần kiên quyết không cấp thêm giấy phép đầu tư ít nhất cho 5 năm tới.
Bên cạnh đó, yêu cầu các địa phương, doanh nghiệp tôn trọng các quy định mà Bộ Công Thương đã ban hành về quy mô công suất đầu tư và
các điều kiện để dự án thép phát triển bền vững trong công văn số 8438/BCT-CNNg ngày 20/8/2010. Ưu tiên các dự án đầu tư các nhà máy thép sản xuất các sản phẩm thép Việt Nam còn phải nhập khẩu với số lượng lớn như thép tấm, thép cuộn cán nóng, thép chất lượng, thép chế tạo… để góp phần giảm bớt nhập siêu. Đồng thời, các cơ quan chức năng và địa phương cần có biện pháp giám sát thúc đẩy các dự án đầu tư FDI, có biểu hiện kéo dài thời gian xây dựng mà không có lý do chính đáng, đặc biệt lưu ý tới các dự án đầu tư mà khả năng thu xếp tài chính chưa rõ ràng, tránh tình trạng chiếm đất tìm cơ hội chuyển nhượng dự án để kiếm lời.
VSA cũng kiến nghị cần có biện pháp khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm thép ở trong nước đang dư thừa. Những biện pháp này có thể là giảm thuế VAT cho sản phẩm thép xuất khẩu, ưu đãi thuế xuất khẩu, hỗ trợ cho doanh nghiệp thép để có nhiều cơ hội tiếp cận với thị trường xuất khẩu thép thế giới (bằng các chương trình xúc tiến thương mại). Theo VSA, việc đẩy mạnh xuất khẩu thép sẽ giúp cho ngành thép giải quyết lượng thép dư thừa, doanh nghiệp có thêm nguồn ngoại tệ để nhập nguyên liệu và sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được và giảm nhập siêu của Nhà nước.
Đối với các doanh nghiệp thép, trước những khó khăn và thách thức hiện nay, ngành thép sẽ phải cơ cấu lại. Những doanh nghiệp thép không còn đủ sức cạnh tranh vì công nghệ và thiết bị lạc hậu, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng lớn, giá thành cao sẽ buộc phải dừng sản xuất hoặc bán lại cơ sở sản xuất cho các nhà đầu tư có tiềm năng để đầu tư đổi mới công nghệ, bảo đảm sản xuất có hiệu quả. Các công ty thép khác cũng phải áp dụng nhiều biện pháp cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức sản xuất để phát huy hết năng lực của công ty, bảo đảm công ty phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập sâu với thế giới và khu vực. Theo ông Cường, chỉ đến năm 2017, mọi chính sách bảo hộ sẽ không còn cho sản xuất thép, cạnh tranh sẽ rất khốc liệt, nếu các công ty thép không nỗ lực đổi mới, chắc chắn sẽ khó tồn tại và phát triển một cách có hiệu quả.
Theo Theo TTXVN
Các tin khác
- Một tín hiệu có lợi cho vụ tranh chấp tôm đông lạnh được nhập khẩu từ Việt Nam - 17/02/2012
- Thị trường khó khăn thúc đẩy phát triển nhãn hàng riêng - 17/02/2012
- Lĩnh vực xây dựng kém hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài - 17/02/2012
- Huy động tối đa nguồn lực tham gia chương trình bình ổn giá - 17/02/2012
- Công nghiệp phụ trợ Việt Nam: Cạnh tranh và hợp tác - 16/02/2012






















