JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTin trong nướcBất cập trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Bất cập trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Sau hơn 4 năm trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết khi gia nhập, trong đó có việc thực hiện đầy đủ các cam kết về sở hữu trí tuệ. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ được coi là một phần chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.

Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều bất cập. Đó là những băn khoăn, trăn trở của ông Trần Việt Hùng, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP khi trao đổi với Đất Việt.

Ông có thể cho biết ngắn gọn về tình hình nghiên cứu và những kết quả sáng tạo trong hoạt động sở hữu trí tuệ của VN thời gian qua?

Ông Trần Việt Hùng: Ngay từ khi nộp đơn gia nhập WTO, Việt Nam đã có chương trình  hoàn thiện khung pháp lý bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đến năm 2005 Luật Sở hữu trí tuệ ra đời, bắt đầu có hiệu lực từ 1-7-2006. Dựa trên khung pháp lý của các quy định về luật sở hữu trí tuệ nêu trên, trong thời gian qua, tình hình nghiên cứu và những kết quả sáng tạo trong hoạt động sở hữu trí tuệ của VN đã đạt được những thành tựu nhất định.

Công tác nghiên cứu, sáng tạo không chỉ phát triển ở các Viện nghiên cứu , các trường Đại học mà nó đã phát triển ở nhiều doanh nghiệp và những người nghiên cứu tự do. Hiện số lượng sáng chế trong nước đăng ký tại Cục SHTT tăng 15% hàng năm, trong đó, vai trò của các trường Đại học ngày càng lớn.

Lượng sáng tạo của những người sáng chế tự do trong thời gian vừa qua cũng tăng. Tuy nhiên, xét về tổng thể, lượng đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam vẫn còn thấp, chỉ chiếm 10% tổng số đơn đăng ký nộp tại Cục SHTT, 90% đơn đăng ký còn lại là của  nước ngoài (chủ yếu là của Mỹ và Nhật Bản). Bên cạnh ít về số lượng, các công trình sáng chế ở nước ta hiện nay chưa có tính đột phá, giá trị chưa cao.

Những hạn chế vướng mắc, khó khăn cuả các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo là gì, thưa ông?

-Thứ nhất, chúng ta phải thừa nhận một thực tế, đất nước ta trải qua nhiều năm chiến tranh, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên công tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo bị hạn chế rất nhiều. Vướng mắc này xuất phát từ những nguyên nhân khách quan do lịch sử để lại. Cũng xuất phát từ những nguyên nhân trên nên sự hiểu biết của các nhà sáng chế Việt Nam về Luật SHTT bị hạn chế. Do đó, họ chưa xem việc nộp đơn đăng ký SHTT là “quyền” và “nghĩa vụ” phải thực hiện.

Thứ hai, quan hệ giữa các Nhà quản lý với các nhà sáng chế chưa chặt chẽ. Thứ ba, kinh phí cho một công trình nghiên cứu và đổi mới sáng tạo tương đối cao cũng là một khó khăn đối với các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, sở hữu trí tụê là một công cụ đắc lực đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Thực tế cho thấy, nhiều công ty, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công và trở nên nổi tiếng nhờ khai thác có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ.  Vậy đối với các doanh nghiệp nước ta, quyền sở hữu trí tụê thực sự phát huy được vai trò của mình?

-Thế giới đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế tri thức nên SHTT đã trở thành một loại tài sản “đặc biệt” của mỗi quốc gia, doanh nghiệp. Tài sản vật chất có thể bị hao mòn nhưng tài sản trí tuệ thì luôn luôn phát triển nếu quốc gia, doanh nghiệp biết cách phát triển, khai thác nó. Nhờ có bảo hộ sở hữu trí tuệ, các nhà sáng tạo mới tạo ra nhiều sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng… mới thúc đẩy nhanh quá trình thương mại hóa các đối tượng sở hữu trí tuệ.

Hàm lượng trí tuệ trong chỉ số tăng trưởng GDP tăng nhanh, sẽ tạo ra một phong trào thi đua lao động sáng tạo, đẩy mạnh các hoạt động sáng kiến - sáng chế ở cơ sở, nâng cao dân trí trong việc bảo hộ bản quyền các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, công nghệ. Ðó chính là con đường tăng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm quốc gia giúp các nước nghèo thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

Kinh nghiệm của các nước đã trải qua giai đoạn công nghiệp cho thấy nếu tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ lên càng cao thì đầu tư trực tiếp nước ngoài và  công nghệ cao sẽ tăng trưởng cao thêm nhiều lần. Ðó là cơ hội vô cùng to lớn mà các nước đang phát triển phải nắm lấy. Một chiến lược phát triển phù hợp và hệ thống quản lý hữu hiệu về sở hữu trí tuệ sẽ giúp các doanh nghiệp có được sản phẩm có tính cạnh tranh cao lại tiết kiệm chi phí và kịp thời ngăn chặn việc sao chép nhãn mác, làm nhái sản phẩm...

Bảo vệ quyền SHTT là việc chủ thể quyền SHTT hoặc cơ quan có thẩm quyền sử dụng các biện pháp cần thiết mà pháp luật cho phép để bảo đảm quyền SHTT được thực thi trên thực tế.

Dưới góc độ chủ thể quyền, việc bảo vệ quyền SHTT sẽ bảo đảm việc việc toàn quyền khai thác tài sản trí tuệ, ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền; dưới góc độ xã hội, bảo vệ quyền SHTT có tác dụng kích thích, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn và lành mạnh; dưới góc độ quốc tế, bảo vệ quyền SHTT luôn là mối quan tâm to lớn không chỉ ở từng quốc gia mà ở cả bình diện quốc tế.

Trong các điều ước quốc tế về SHTT được ký kết gần đây, ví dụ Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS - WTO), các chuẩn mực tối thiểu về thực thi quyền SHTT đã đặt ra và đòi hỏi các quốc gia thành viên phải tuân theo.

Tuy nhiên, việc đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, vẫn có khá nhiều doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu những quy định về việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhiều doanh nghiệp hoạt động hàng chục năm vẫn không biết xác lập quyền sở hữu trí tuệ, đến lúc bị vi phạm mới vội vàng đi đăng ký.

Vì thế mới có chuyện một số doanh nghiệp mất cả nhãn hiệu, gây tổn thất rất lớn. Đó là một thiệt thòi vì thiếu thông tin, thiếu hiểu biết của doanh nghiệp Việt Nam.

Như vậy, Việt  Nam hiện chưa có cái gọi là “văn hóa sở hữu trí tuệ”?

-Khái niệm văn hóa sở hữu trí tuệ được Nhật Bản đưa ra, là một khái niệm rất hay, nghĩa là văn hóa của người biết tự bảo vệ sở hữu trí tuệ của mình và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người khác. ở nhiều nước phát triển, đa phần người dân có ý thức không dùng  sản phẩm giả, nhái, không bản quyền và coi điều đó là sự xấu hổ, xúc phạm.

Việt Nam chưa có được điều này. Một số cuộc điều tra trên thị trường cho thấy vẫn còn rất nhiều người chấp nhận dùng hàng giả, nhái nếu nó phù hợp với túi tiền và nhu cầu của họ, đó là điều cần thay đổi. Bản thân chủ sở hữu trí tuệ khi bị vi phạm thì phản ứng nhưng lúc khác có thể lại dùng sản phẩm vi phạm.

Dường như, nhận thức của công chúng về thực thi sở hữu trí tuệ, cụ thể là việc thực thi Luật sở hữu trí tuệ vẫn chưa thực sự được chú ý. Theo ông nguyên nhân do đâu?

-Khái niệm SHTT đã xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng đối với VN thì đây là một khái niệm khá mới mẻ. Luật chuyên biệt SHTT ở nước ta cũng mới ra đời năm 2005 nên vấn đề SHTT cũng chỉ mới được tuyên truyền phổ biến rộng rãi khoảng hơn 10 năm trở lại đây. Do đó, hiểu biết của toàn xã hội, kể cả cấp quản lý lẫn doanh nghiệp về vấn đề này chưa cao.

Nhận thức của công chúng về sở hữu trí tuệ và trong các doanh nghiệp còn hạn chế. Nhiều người còn chưa hiểu sở hữu trí tuệ là gì, ngay cả các cán bộ thực thi quyền SHTT cũng chưa nắm vững. Hệ thống pháp luật của Việt Nam về sở hữu trí tuệ đã dầy đủ tuy vậy còn có biểu hiện bị chồng chéo ở nhiều văn bản, thiếu sự thống nhất,  nên khó áp dụng.

Mức phạt các vi phạm sở hữu trí tuệ còn nhẹ, thiếu khả năng răn đe và thực thi. Hệ thống các cơ quan thực thi còn yếu, nhất là tòa án xét xử chưa nhiều các vụ án liên quan sở hữu trí tuệ. Trong thực tế, thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam thường được thông qua các quy định về xử lý hành chính hơn là kiện cáo trước tòa do cách này dễ thực hiện, nhanh chóng về thủ tục và ít tốn kém dù nó có một nhược điểm là tính răn đe và hiệu quả chưa cao.

Thêm nữa, doanh nghiệp Việt Nam thường có tâm lý “né tránh”, ngại kiện cáo trong khi thủ tục tố tụng về sở hữu trí tuệ còn thiếu càng làm cho số vụ tranh chấp giải quyết qua con đường tòa án ít đi. Cho nên, cùng với nỗ lực của các ngành chức năng, doanh nghiệp cũng cần có thói quen bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình qua con đường tố tụng bởi đây là cách giải quyết triệt để.

Nền kinh tế bao cấp với cơ chế “xin- cho” kéo dài trong nhiều thập niên nên tài sản trí tuệ chưa hình thành nên thói quen trong mọi người dân. Mặt khác, do kinh tế của đại bộ phận người dân còn hạn hẹp cùng với thói quen “sính” hàng giá rẻ nên người Việt Nam cũng chưa quen với việc sử dụng các mặt hàng có nhản hiệu nổi tiếng (sản phẩm càng nổi tiếng thì giá thành càng cao- PV) nên các DN, công chúng cũng ít quan tâm đến việc thực thi SHTT. Nói cách khác, chỉ đến khi bị xâm phạm về quyền SHTT thì người dân, doanh nghiệp mới quan tâm, đăng ký quyền SHTT.

Nguyên nhân cuối cùng và cũng rất quan trọng là công tác tuyên truyền, phổ biến Luật SHTT ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức.

Vậy, Cục SHTT đã có những biện pháp gì để nâng cao nhận thức của công chúng, cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội và người dân nói chung trong việc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ?

-Thực ra vấn đề này mới được đề cập đến nhiều trong vài năm gần đây. Chúng ta có thể nâng cao hiểu biết của nhân dân qua nhiều kênh tuyên truyền, các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi, tài liệu phổ biến kiến thức..., mở các khóa học ngắn hạn về sở hữu trí tuệ trước hết cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và đại diện của các hiệp hội... Đó chính là những nòng cốt về sở hữu trí tuệ trong từng ngành để sau đó nhân rộng ra.

Trên cơ sở đề nghị của Bộ Khoa học và công nghệ Chính phủ đã ra quyết định triển khai Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ trong giai đoạn 2007- 2010 và tiếp tục thực hiện giai đoạn 2011- 2015. Chương trình này được thực hiện từ các cơ quan Trung ương cho đến  63 tỉnh, thành trong cả nước. Một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình là  tập trung nâng cao hiểu biết của xã hội về SHTT.

Với tư cách là cơ quan hạt nhân trong hệ thống SHTT của VN, trong thời gian qua, Cục SHTT đã phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nước để tổ chức hàng trăn cuộc Hội thảo, hội nghị, các đợt tập huấn… nhằm nâng cao sự hiểu biết về SHTT cho các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà sáng tạo và toàn thể nhân dân. Đông thời, chúng tôi cũng thường xuyên phối hợp với các cơ quan truyền thông báo chí tổ chức các chương trình tọa đàm, chuyên đề bằng nhiều hình thức hấp dẫn để tuyên truyền Luật SHTT đến mọi tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp.

Xin cảm ơn ông!

Theo khoahoc.baodatviet.vn

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008735524
Go to top