
Các quốc gia công nghiệp hóa đã nâng cao chuẩn mực đa phương để tạo điều kiện tự do hóa đầu tư quốc tế. Các quy định đầu tư đa phương dự kiến, nếu được thông qua, sẽ không chỉ áp đặt nghĩa vụ cho các thành viên phải mở cửa thị trường trong các lĩnh vực cụ thể cho các công ty nước ngoài, mà có thể ảnh hưởng đến những khía cạnh rất nhạy cảm như chủ quyền quốc gia do nó làm giảm quyền lực nhà nước trong việc xây dựng chính sách thương mại và hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa của mình.
Đây chính là lý do để giải thích cho sự miễn cưỡng của các quốc gia đang phát triển trong việc ủng hộ thiết lập một khuôn khổ toàn diện cho tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hoặc các diễn đàn khác như Hiệp định đa phương về đầu tư.
Các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ và Liên minh châu Âu, rõ ràng đã nhận thức được những mục tiêu đàm phán của các nước đang phát triển và nhận ra những khó khăn trong việc thiết lập các quy tắc đầu tư đa phương. Và kết quả là những quốc gia này đang nỗ lực để thúc đẩy quan hệ song phương với những gì họ không thể đạt được ở cấp đa phương. Những nỗ lực này bao gồm các thỏa thuận thương mại tự do (FTA) đã có hoạch đang trong quá trình đàm phán, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các FTA.
Mặc dù hầu hết các nước đang phát triển vẫn chào đón đầu tư nước ngoài, nhưng gần đây họ đang tỏ ra cảnh giác hơn với FDI. Nhiều nước hạn chế hoặc cấm quyền sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoàitrong một số lĩnh vực nhất định, chẳng hạn như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, nông nghiệp và khai thác mỏ.
Một số quốc gia không hạn chế sở hữu nước ngoài trong các ngành công nghiệp nhất định, nhưng lại áp đặt các điều kiện hết sức nghiêm ngặt quyền điều hành kinh doanh, chẳng hạn như yêu cầu về tỷ lệ cổ phần hoặc bắt buộc phải có một số lượng tối thiểu của các giám đốc địa phương. Mục đích của các quy định này là để ngăn chặn sự thống trị của nước ngoài trong các lĩnh vực thiết yếu, có tính đến các lợi ích công cộng, bảo vệ các lợi ích kinh tế, pháp lý của người tiêu dùng và cạnh tranh.
Các hiệp định đầu tư song phương và khu vực là các hiệp ước giữa hai hay nhiều quốc gia, trong đó mỗi bên đồng ý thúc đẩy FDI và bảo vệ các nhà đầu tư của nhau trong lãnh thổ của mình. Những hiệp ước này được đàm phán và ký kết bởi các chính phủ, nhưng nó lại bảo vệ cho các tổ chức phi nhà nước, cụ thể là các công ty nước ngoài và chủ sở hữu theo hợp đồng. Họ thường cho phép các công ty nước ngoài từ các nước tham gia ký kết được đối xử công bằng, ngang bằng với doanh nghiệp trong nước, cũng như các công ty từ các nước khác. Họ cũng bảo vệ quyền sở hữu theo hợp đồng, bảo đảm quyền chuyển lợi nhuận về nước.
Thông thường, các thỏa thuận hạn chế sự trưng dụng hay quốc hữu hóa của chính quyền sở tại, cũng như những thay đổi về chính sách mà không phải vì mục đích công cộng. Trong trường hợp bị trưng dụng hoặc quốc hữu hóa, hoặc là trực tiếp hoặc gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài được đảm bảo bồi thường nhanh chóng, đầy đủ, và phù hợp với các thủ tục pháp luật.
Nhiều hiệp định đầu tư gần đây còn mở rộng vấn đề cho phép nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm trọng tài quốc tế thay cho các tòa án địa phương để đòi bồi thường tài sản bị nước chủ nhà tước đoạt.
Thông thường các quy tắc pháp lý về trung dụng hay quốc hữu hóa được thiết kế để bảo vệ các nhà đầu tư trước các hành động của chính phủ độc tài, song vấn đề vẫn còn. Tước đoạt gián tiếp là gì? Các biện pháp điều tiết của nhà nước chủ nhà có bị coi là tước đoạt quyền sở hữu?
Theo Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ (Nafta) và các hiệp định FTA khác, thuật ngữ "Tước đoạt gián tiếp" đã được định nghĩa rất rộng, chúng bao gồm các hình thức khác nhau của hoạt động nhà nước mà có ảnh hưởng đến lợi ích sở hữu của một nhà đầu tư nước ngoài.
Thuật ngữ "lợi ích sở hữu" cũng có một định nghĩa rộng bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình. Điều này đã hạn chế quyền lực tối cao của nhà nước trong việc điều tiết lợi ích công cộng, và cho phép các nhà đầu tư đòi bồi thường chống lại nhà nước điều tiết.
Chính phủ Thái Lan kiên trì lập trường trong đàm phán hiệp định thương mại
Kể từ khi Cơ chế Giải quyết Tranh chấp Nhà đầu tư - Nhà nước (ISDS) cho phép các nhà đầu tư bỏ qua nghĩa vụ phải tìm kiếm một sự giải quyết bằng tòa án trong nước, số lượng các trường hợp áp dụng theo cơ chế này đã tăng lên nhanh chóng. Trong năm 2009, tổng số các trường hợp áp dụng ISDS là 81. Hầu hết trong số đó là các nhà đầu tư từ các nước phát triển kiện các chính phủ của các quốc gia đang phát triển.
Theo thông lệ luật pháp quốc tế, chỉ có cấp nhà nước mới có khả năng khởi kiện hoặc đưa một nhà nước khác ra trước một tòa án pháp lý quốc tế.
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước-nhà nước thường phải đối mặt với những chỉ trích là không đủ khả năng để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư. Theo cơ chế giải quyết tranh chấp này thì nhà đầu tư không thể phát động tiến trình giải quyết tranh chấp mà không cần sự can thiệp của nước nhà. Việc nhà nước có hay không can thiệp để giải quyết theo luật quốc tế lại phụ thuộc nhiều vào bối cảnh chính trị và ngoại giao tại thời điểm đó.
Các thủ tục tố tụng ISDS được xem như là phương thức thích hợp nhất để bảo vệ đầu tư. Lý do cơ bản là cơ chế ISDS đã giải quyết được vấn đề ảnh hưởng tiềm năng đối với đầu tư nước ngoài do sự không chắc chắn và ổn định của hệ thống luật pháp và chính trị ở nước chủ nhà gây ra. Có quan niệm phổ biến rằng các quá trình ra phán quyết theo hệ thống tư pháp tiêu chuẩn thường có thành kiến đối với các nhà đầu tư nước ngoài và cơ chế ISDS thay thế sẽ đưa ra các quy định vững chắc về sự minh bạch trong thủ tục tố tụng và công bằng của trọng tài.
Các chương đầu tư theo đề xuất trong TPP và FTA Thái Lan - EU, nếu được thông qua, có thể tạo ra nguy cơ cho khả năng bảo vệ lợi ích công cộng thực chất của Thái Lan. Các thỏa thuận này sẽ hạn chế sự linh hoạt của chính phủ Thái Lan vốn đang có theo các hiệp định của WTO, và, do đó, hạn chế quyền can thiệp vào các sản phẩm thiết yếu, chẳng hạn như các loại thuốc, cho người dân Thái.
Ngoài ra, cơ chế ISDS sẽ làm cho chính phủ Thái Lan khó khăn hơn khi muốn điều chỉnh luật pháp trong các lĩnh vực thiết yếu, và sẽ đặt các mục tiêu chính sách công chính đáng của Thái Lan (ví dụ, kiểm soát bán thuốc lá và hàng hóa nguy hiểm, bảo vệ người tiêu dùng, y tế và môi trường) trong tay các trọng tài tư nhân. Các công ty nước ngoài sẽ có thể gây ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp lên sự hình thành các chính sách công
Chính phủ Thái Lan cần kiên trì quan điểm tự do hóa đầu tư phải được thực hiện thông qua các cuộc đàm phán đa phương, và rằng bất kỳ tiêu chuẩn đã được chấp nhận về đầu tư cũng cần phải giải quyết vấn đề cân bằng giữa quyền và trách nhiệm của các nhà đầu tư và có các cơ chế hiệu quả để kiểm soát hành vi sai trái của chúng.
Việc đưa ra các quyết định liên quan đến thỏa thuận song phương hoặc khu vực, các nhà hoạch định chính sách Thái Lan sẽ phải hết sức cân nhắc, phải dựa trên bằng chứng thực nghiệm, xem xét đến lợi ích kinh tế như là một hiệp ước chống lại tầm quan trọng của việc bảo vệ sức khỏe và lợi ích xã hội của dân chúng Thái Lan.
Tác giả: Jakkrit Kuanpoth là giám đốc nghiên cứu về luật kinh tế, Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan.
Theo Bangkok Post - PT
Từ khóa: nước đang phát triển, đàm phán, hiệp định thương mại, FTA
Các tin khác
- Palestine chuẩn bị gia nhập WTO với sự hỗ trợ của EU - 06/03/2015
- Ba nước ASEAN ký thỏa thuận khu vực về huy động vốn qua biên giới - 06/03/2015
- Làm thế nào ASEAN chấm dứt nạn đói và đảm bảo an ninh lương thực - 05/03/2015
- Trung Quốc phản đối Mỹ áp thuế chống phá giá đối với lốp xe - 05/03/2015
- Việt Nam và Lào ký lại hiệp định thương mại - 05/03/2015






















