
Sự phổ biến của các Hiệp định thương mại tự do
Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã trở nên phổ biến trong môi trường thương mại toàn cầu. Hiện có hơn 350 FTA đang có hiệu lực và một số lượng lớn đang trong quá trình đàm phán. Một số lý do cho sự ra đời của rất nhiều FTA gồm:
• Tăng cường tiếp cận thị trường: để các FTA thực sự mang lại ý nghĩa, các bên tham gia phải đưa ra một lý do nào đó vượt ra ngoài những nỗ lực tự do hóa thương mại hiện có bằng cách cung cấp cho nhau khả năng tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực then chốt.
• Mục tiêu chính sách đối ngoại: FTA giữa các đối tác chiến lược nước ngoài có thể giúp ích cho chính sách đối ngoại của một quốc gia nào đó.
• Tác động đến chính sách đối nội: một số yêu cầu có trong các FTA có thể bao hàm sự thay đổi về pháp luật và chính sách, bằng cách này, các FTA có thể ảnh hưởng đến chính sách đối nội của một đối tác thương mại cụ thể.
FTA và chủ nghĩa đa phương
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là khuôn khổ thể chế cho việc thực hiện các quan hệ thương mại đa phương và đàm phán giữa các thành viên. Hiện nay có hơn 160 nước là thành viên của WTO, bao gồm các nước phát triển, đang phát triển và các quốc gia kém phát triển. WTO ra đời năm 1995 như là sự kế thừa cho Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) - được coi là một thỏa thuận tự do hóa thương mại hàng hóa.
Với lịch sử ra đời của mình , bắt đầu từ GATT và sau đó là WTO, WTO đã tham gia vào một loạt các "vòng đàm phán" để dần mở rộng phạm vi tự do hóa thương mại. Kết quả là, các hiệp định thương mại trong khuôn khổ WTO vượt ra ngoài thương mại hàng hoá và bao gồm thương mại dịch vụ, các biện pháp đầu tư thương mại cũng như các khía cạnh thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ.
FTA và các Hiệp định của WTO cùng chia sẻ một mục tiêu chung là tự do hóa thương mại. Tuy nhiên, nếu các FTA phân biệt đối xử trong việc nước nào sẽ tham gia vào hiệp định thì WTO là ngược lại. Cụ thể, tất cả các hiệp định của WTO dựa trên nền tảng là nguyên tắc "tối huệ quốc" (MFN). Trên thực tế, nguyên tắc MFN có nghĩa là bất kỳ lợi ích nào nếu được áp dụng cho một đối tác thương mại của WTO (ví dụ mức thuế thấp hơn, giảm các rào cản phi thuế quan) thì cũng phải được mở rộng cho tất cả các thành viên WTO khác.
Những khó khăn trong việc đảm bảo thỏa thuận về các vấn đề thương mại là chấp nhận được cho tất cả các thành viên WTO đã dẫn đến khuynh hướng lựa chọn nhiều hơn FTA trong cách tiếp cận đa phương, kết quả là các FTA với các đối tác trong khu vực (ví dụ FTA ASEAN-Australia-New Zealand) hay giữa các quốc gia khác nhau về mặt địa lý (ví dụ FTA Úc-Chile) đã ra đời.
Có sự khác biệt lớn về phạm vi trong các FTA, phụ thuộc vào: (1) lợi thế so sánh của các bên tham gia FTA; (2) sức mạnh chính trị của các nhóm lợi ích của mỗi bên; (3) bối cảnh địa chính trị của một FTA.
Tạo thuận lợi cho thương mại (TF) đã xuất hiện gần đây trong các FTA.
Định nghĩa TF có thể được tóm tắt là đơn giản hóa và hài hòa hóa các thủ tục thương mại quốc tế bao gồm các hoạt động, tiêu chuẩn, thủ tục cần thiết liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa qua biên giới.
TF có thể giúp: (1) giảm thời gian cần thiết để tiếp cận và thông quan hàng hóa; (2) các thủ tục thông quan minh bạch và có thể dự đoán được; (3) đơn giản hóa thủ tục thông quan. Tóm lại, TF liên quan đến việc loại bỏ các rào cản để thương mại với tiêu chí ít phức tạp hơn, nhanh hơn và rẻ hơn.
TF là rất quan trọng vì làm giảm đáng kể chi phí xuất khẩu; chi phí cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp này trên thị trường quốc tế); giảm rủi ro từ sự không chắc chắn về quy trình thủ tục hải quan khi quyết định đầu tư; giảm chi phí cho chính phủ; mang lại lợi ích lớn hơn cho người tiêu dùng.
Sự nổi lên của TF trong các FTA
Năm 2004, các thành viên WTO đã quyết định khởi động đàm phán về TF. Trước năm 2004, việc đàm phán TF trong các FTA bị hạn chế. Ngược lại, hầu như tất cả các FTA được ký kết sau khi WTO công bố khởi động đàm phán về một hiệp định thuận lợi hóa thương mại ở cấp độ toàn cầu đều ít nhiều bao gồm các điều khoản liên quan đến TF. Điều này cho thấy mối quan hệ cộng sinh cùng phát triển giữa đàm phán trong phạm vi WTO với các FTA riêng lẻ.
Theo https://www.maddocks.com.au - PC
Từ khóa: thuận lợi, thương mại, vấn đề, hiệp định, thương mại, tự do
Các tin khác
- Ngày 20 tháng 10, Nga bắt đầu thanh tra 6 doanh nghiệp thủy sản Việt Nam - 20/10/2014
- EU từ chối tôm có dư lượng kháng sinh từ Ấn Độ - 20/10/2014
- Nam Phi kiện EU ra trước WTO về hạn chế nhập khẩu cam quýt - 20/10/2014
- Seychelles chính thức trở thành thành viên WTO - 20/10/2014
- Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU: Từ góc nhìn châu Âu - 20/10/2014






















