Các Hiệp định thương mại tự do có quy mô tầm cỡ – liên quan đến một hoặc nhiều cường quốc - hiện là xu thế mới nhất trong các cuộc đàm phán chính sách thương mại. Hiện ASEAN đang tham gia vào hai Hiệp định tầm cỡ như vậy: một là Hiệp định TPP – do Mỹ dẫn dắt, và hai là RCEP do Trung Quốc dẫn dắt. Nhưng liệu các Hiệp định này có tốt cho thương mại và tăng trưởng kinh tế? Liệu chúng có thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu? Và ASEAN đang đứng ở vị trí nào trong các Hiệp định này?
Tính đến năm 2013, đã có 261 Hiệp định tự do thương mại (FTA) được ký kết ở châu Á, và hơn 100 FTA đã có hiệu lực. Ba cường quốc châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ hiện đang có rất nhiều mối liên kết với các nước thành viên ASEAN, ví dụ như Singapore, Malaysia và Thái Lan. Nội khối ASEAN cũng có Hiệp định AFTA, và AFTA sẽ được nâng cấp thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015. ASEAN cũng đang đàm phán các FTA với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Australia-New Zealand.
Sức mạnh của các FTA rất khác nhau. Các FTA giữa Mỹ với các nước châu Á tính đến thời điểm hiện tại chính là các FTA mạnh nhất. Các FTA này có phạm vi ngành hàng rộng nhất và đi sâu vào những nguyên tắc đảm bảo tiếp cận thị trường. Nhưng các FTA này cũng có ngoại lệ đối với những lĩnh vực nhạy cảm về chính trị, đồng thời sàng lọc những yêu cầu về quy tắc xuất xứ (ROO) phức tạp và có sự phân biệt đối xử. Các FTA giữa EU với các nước châu Á cũng tương đối mạnh. Nhưng các FTA giữa các nước châu Á với nhau nói chung vẫn còn nhiều hạn chế. Các FTA này loại bỏ thuế quan đối với hầu hết hàng hóa, nhưng lại yếu trong việc giải quyết các rào cản pháp lý bảo hộ hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và mua sắm công. Ví dụ như trường hợp FTA của Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, cũng như các FTA giữa những nước ASEAN. Nhìn chung, làn sóng FTA này đã không tạo được sự thúc đẩy lớn đối với thương mại và đầu tư nước ngoài. Tuy vậy, các FTA này cũng không gây cản trở tăng trưởng thương mại.
Các FTA quy mô tầm cỡ có khả năng tạo thêm nhiều lợi ích to lớn từ việc tự do hóa thương mại. Nếu được thực hiện nghiêm túc và toàn diện, các FTA quy mô tầm cỡ này sẽ giải quyết được những rắc rối phát sinh từ việc chồng chéo các quy định giữa các FTA khác (Ví dụ như các mâu thuẫn do chồng chéo các quy định về ROO). Với một không gian hội nhập kinh tế lớn hơn, các FTA này có thể thúc đẩy các nước thành viên mở rộng quy mô kinh tế và đổi mới công nghệ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Mạng lưới sản xuất khu vực để phục vụ cho thị trường toàn cầu là động lực lớn nhất thúc đẩy gia tăng sản xuất, việc làm và tăng trưởng trong thương mại quốc tế. Do đó, các FTA này đóng vai trò lớn trong việc hội nhập thị trường khu vực và liên khu vực. Tuy nhiên, các FTA quy mô tầm cỡ không mang tính chất "đa phương", bởi các FTA này phân biệt đối xử với các nước không phải là thành viên của nó. Đây là một nguy cơ tiềm ẩn có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
TTIP và TPP là các FTA khu vực thuộc dạng lớn và tham vọng nhất. Chúng bao gồm nhiều lĩnh vực bao gồm mua sắm hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và mua sắm chính phủ, đồng thời đi sâu vào lĩnh vực quy định pháp lý - bao gồm cả sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn kỹ thuật, và các thủ tục hải quan. Những đổi mới trong TPP bao gồm cả các quy định tạo điều kiện thuận lợi cho các chuỗi cung ứng và thương mại điện tử.
Tuy nhiên, vẫn có những rào cản lớn cản trở sự thành công. Hành lang bảo hộ là một trong số những trở ngại lớn ở một số quốc gia, gồm lĩnh vực nông nghiệp và ô tô ở Mỹ, nông nghiệp tại Nhật Bản, mua sắm chính phủ ở Malaysia, và các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Mỹ lại kiên trì yêu cầu nhiều điều khoản về sở hữu trí tuệ, y tế công cộng, lao động, tiêu chuẩn môi trường và các yêu cầu về quy tắc xuất xứ - những điều khoản có thể cản trở các nước đang phát triển tiếp cận thị trường. Chính quyền Obama cũng chưa được Quốc hội trao Quyền xúc tiến thương mại khiến TPP khó có thể được ký kết và phê chuẩn. TTIP cũng bị chậm lại do vấp phải những trở ngại từ cả hai bờ Đại Tây Dương.
RCEP có vẻ ít tham vọng nhất. Nếu RCEP theo mô hình của các FTA trong nội bộ châu Á, thì Hiệp định này sẽ loại bỏ thuế quan đối với khoảng 90% hàng hóa trong một khoảng thời gian khá dài. Nhưng RCEP sẽ yếu trong việc giải quyết các rào cản phi thuế quan - trở ngại lớn nhất đối với thương mại trong khu vực. Rất có thể kết cục của RCEP là sẽ lâm vào tình trạng “hội chứng bát mì FTA” chứ không phải là điều chỉnh những điểm chồng chéo giữa các FTA trong khu vực. Nếu viễn cảnh đó xảy ra, RCEP sẽ ít tạo được thương mại và đầu tư mới, đồng thời làm phức tạp thêm chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cả TPP và RCEP đều phụ thuộc nhiều vào sự dẫn dắt của Mỹ và Trung Quốc. Tài năng lãnh đạo của Tổng thống Obama là hết sức cần thiết để Hiệp định TPP – một FTA được đánh giá là có "chất lượng cao, tiên phong trong thế kỷ XXI" – được nhanh chóng ký kết. Tuy nhiên, Ông Obama đã bị đánh giá là thất bại trong việc dẫn dắt thương mại quốc tế. Tương tự như vậy, các lãnh đạo Trung Quốc đã luôn phòng thủ về chính sách thương mại trong gần một thập kỷ. Nhưng cũng có những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang bắt đầu quan tâm đến tự do hóa thương mại trong khu vực và trên toàn cầu. Điều này sẽ khiến Trung Quốc đưa nhiều tham vọng hơn nữa vào RCEP.
Tất cả các nước ASEAN đều tham gia RCEP và bốn trong số đó là thành viên của TPP. Các nước này nên làm gì với các FTA có quy mô tầm cỡ này? Đầu tiên, các nước này cần phải ưu tiên thúc đẩy các FTA có các tính chất như sau: rộng (có phạm vi bao phủ tối đa), sâu (có các biện pháp chặt chẽ dành cho các rào cản pháp lý), có ROO tương đối đơn giản và các điều khoản gia nhập mở dành cho những nước không phải là thành viên. Chỉ những FTA thỏa mãn các tính chất trên mới có khả năng tạo ra thương mại và đầu tư đáng kể, và tạo điều kiện cho việc mở rộng chuỗi cung ứng toàn cầu. Thứ hai, các nước này phải bổ sung các tính chất trên cho các FTA giữa nội khối ASEAN, chẳng hạn như đẩy nhanh tiến độ thực hiện AEC và tăng cường các quy định trong các FTA hiện có.
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng các FTA có quy mô tầm cỡ và các FTA khác không phải là phương thuốc chung cho tất cả các nước. Các thực tế về chính trị chắc chắn sẽ làm giảm tham vọng và chất lượng của các FTA. Với nhiều khoảng trống và nhiều khía cạnh chưa rõ ràng, các FTA này có thể sẽ không đủ khả năng đem đến những lợi ích rất lớn mà nhiều chuyên gia dự đoán. Điều này có thể xảy ra đối với TPP, RCEP và AEC. Các nước ASEAN nên tiến hành một cách nhanh, rộng và sâu nhất có thể trong việc đơn phương tự do hóa. Các nước này cũng nên "đa phương" các ưu đãi trong các FTA hiện có càng nhiều càng tốt, nghĩa là cần mở rộng phạm vi các FTA này sang cả những nước không phải thành viên của FTA, trên cơ sở không phân biệt đối xử. Đây là cách mà các nước ASEAN đã dùng để tự do hóa và hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong quá khứ, và điều này có thể sẽ không thay đổi trong tương lai.
Theo www.eastasiaforum.org - TV
Các tin khác
- Nga sớm ban hành lệnh cấm nhập khẩu máy móc ngành dệt may từ phương Tây - 10/09/2014
- ASEAN có hơn 120 chỉ dẫn địa lý được đăng ký bảo hộ - 10/09/2014
- Hàn Quốc tăng trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lúa - 10/09/2014
- Ấn Độ ký Hiệp định tự do thương mại dịch vụ, đầu tư với các nước ASEAN - 09/09/2014
- Các vấn đề trong quá trình đàm phán TRIPS và những bài học - 09/09/2014






















