Các cuộc thảo luận chuẩn bị cho vòng đàm phán Uruguay bắt đầu tháng 11 năm 1985. Từ tháng 03 năm 1986, một số ngành công nghiệp quan trọng nhất của Mỹ đã thiết lập Ủy ban Sở hữu Trí tuệ (IPC), điều này đánh dấu sự thành công trong việc hình thành một "sự tiên phong quốc tế" của các công ty mà phần đa trong số công ty lớn đó thuộc về Mỹ, Liên minh Châu Âu và Nhật bản. Các công ty này đều có ảnh hưởng lớn đến chính phủ của họ. Mục tiêu của các công ty này là giới thiệu một hiệp ước quốc tế mới, hiệp ước này không chỉ bắt buộc thực thi quyền sở hữu trí tuệ mà còn chứa đựng các tiêu chuẩn tối thiểu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới (lịch sử ngoại giao chi tiết của Vòng đàm phán Uruguay Rubin &Jones năm 1988 và Croome 1995). Điều quan trọng cần nhấn mạnh rằng cơ quan ngoại giao Mỹ chỉ đóng một vai trò nhỏ trong các nội dung cụ thể của đề xuất này. Thật ra, các cán bộ ngoại giao của các nước công nghiệp, ví dụ những người Đại diện Thương mại Mỹ, biết rất ít về pháp luật sở hữu trí tuệ và cần được vấn về những vấn đề quan trọng từ CEOs của các công ty dược phẩm quan trọng nhất, chẳng hạn như Pfizer (Matthews năm 2002, trang 18).
Phía bên kia chiến tuyến là hàng chục quốc gia đang phát triển và kém phát triển nhất
(LDC) lại không có lợi lộc gì từ vấn đề sở hữu trí tuệ. Có ba trường hợp quan trọng. Trường hợp đầu tiên là các quốc gia đã tích cực phát triển công nghệ, chẳng hạn như Ấn Độ và Trung Quốc, muốn tái sản xuất các sản phẩm bằng sáng chế của nước ngoài với giá thấp; trường hợp thứ hai là các nước đang phát triển khác lo ngại rằng việc tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ có thể dẫn đến tình trạng không được tiếp cận công nghệ với điều kiện công bằng; trường hợp cuối cùng là các nước kém phát triển sẽ không được hưởng lợi từ hệ thống mới được đề xuất chỉ đơn giản là vì chi phí cải cách hoặc tạo ra cơ chế mới bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ nhiều hơn lợi ích mà họ nhận được. Do đó, câu hỏi đặt ra làm thế nào và lý do tại sao các cuộc đàm phán đã thành công? có một lý do có thể giải thích là do ảnh hưởng của "gói duy nhất," theo đó các bên đàm phán chỉ có thể hoặc là chấp nhận hoặc từ chối toàn bộ kết quả của các cuộc đàm phán, và mọi việc đã được quyết định. Theo quy tắc này thì không có sự lựa chọn cho các bên bất đồng, hoặc là giải pháp thay thế cho sự hoàn chỉnh của thỏa thuận. Trên thực tế, một số học giả đã tuyên bố một cách rõ ràng rằng nếu không có quy tắc gói duy nhất nhiều quốc gia, sẽ không có kết quả ký TRIPs (xem Picone f Ligustro 2002, trang 402 và Verma & Dadwal 2004, trang 59).
Các vấn đề sau đó (và những bài học)
Hiệp định TRIPS có vấn đề về cấu trúc rất lớn. Trước hết, phần I và phần II chưa có sự cân bằng. Một mặt, phần II với nội dung về "Tiêu chuẩn Liên quan đến việc sẵn có, phạm vi và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ" được viết rất cụ thể và đưa ra các tiêu chuẩn tối thiểu. Mặt khác, phần I, dành riêng cho các "quy định chung và nguyên tắc cơ bản" có xu hướng bỏ qua tất cả các "quy định "mà nên có lợi cho nước đang phát triển và tất cả các nguyên tắc quan trọng lại thiên về ủng hộ các nước phát triển. Ví dụ, trong phần đầu định nghĩa xác định sở hữu trí tuệ là "quyền riêng tư", do đó không thuộc về một cộng đồng hoặc là di sản chung. Việc đưa ra một một nguyên tắc như thế này rõ ràng là không có nghĩa tổng quát, vì nó đã được chứng minh, cũng như việc củng cố vị thế của chủ sở hữu trí tuệ ở cấp quốc tế (Lester & Mercurio 2008, p.709)
Thay vào đó, các quy định tại Điều 7 ("Obiectives") và Điều 8 ("Nguyên tắc") nhìn chung là không có lợi cho quốc gia không sản sinh ra nhiều sở hữu trí tuệ và điều này chứng minh sự không cân bằng hệ thống. Trong thực tế, họ chưa bao giờ thể hiện sự quyết tâm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong bất kỳ tranh chấp đưa ra trước Cơ quan giải quyết tranh chấp và nó chỉ được sử dụng như là công cụ diễn giải chủ yếu của các học giả (Lester f Mercurio 2008, trang 714). Vì vậy, chúng ta phải đồng ý với Soltysinski (1996, trang 317), người cho rằng "nguyên tắc chung lợi ích giữa người đưa ra sáng kiến và người thuộc phạm vi điều chỉnh của các sáng kiến đó, cũng như đề cập đến sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được nêu trong điều 7 của TRIPs đã bị coi nhẹ”.
Tóm lại, kết quả của vòng đàm phán Uruguay phải được xem xét một cách tổng thể. Vì theo đó nếu các nước đang phát triển thu được lợi ích gì từ sở hữu trí tuệ (IP), thì rất có thể họ đã nhận được cái gì đó từ các cuộc đàm phán về dệt may và nông nghiệp. Điều này "câu chuyện về mặc cả" là phổ biến và có ý nghĩa (xem Correa & Yusuf 2008, Trang 9 và Picone & Ligustro 2002, trang 402). Tuy nhiên, điều này không phải là cách thức giải quyết được tất cả các vấn đề. Trước hết, có ý kiến cho rằng Vòng đàm phán Uruguay chỉ có lợi cho một nhóm lợi ích quốc gia [ trích Professor Sell 2003, trang 8, xem thêm Okediji 2003, p.830] "(...) và nó tốt nhất nhưng không đầy đủ. Thứ hai, nó chỉ là một phụ lục độc lập của Hiệp ước WTO và chỉ là thỏa thuận quốc tế mà đặc biệt tập trung vào mối liên hệ giữa IP và thương mại, và nó thực sự là quá không cân bằng.
Cuối cùng, thực tế là những người soạn thảo của Hiệp định TRIPs đã không đếm xỉa đến của thời hạn và sự hiểu biết về IP của nhiều Bên ký kết. Một thực tế là 33 nước kém phát triển, tức là 20% thành viên hiện của WTO không có khả năng thực hiện Hiệp định này. Họ đã phải thực hiện lộ trình sau 01 tháng 01 năm 2006, sau đó lại được gia hạn đến đến 01 Tháng 7 năm 2013, và khả năng phải gia hạn thêm là gần như chắc chắn. Trong thực tế, nhiều nước sẽ không bao giờ đầu tư vào xây dựng một hệ thống IP mạnh mẽ khi mà họ thấy không đạt được lợi ích gì từ nó.
Cuối cùng, Hiệp định TRIPs đã không thiết lập được các điều kiện cần thiết cho việc thiết kế một hệ thống IIP có khả năng phát triển bền vững, hài hòa và cân bằng. Ý tưởng cho rằng hiệp định này như là một sự diệu kỳ để giới thiệu các tiêu chuẩn tối thiểu bảo vệ sở hữu trí tuệ mạnh mẽ trên toàn thế giới đã không thành công. Ngoài ra, lợi ích hứa hẹn cho các nước đang phát triển cho đến nay vẫn chủ yếu là lý thuyết, trong khi sự mất lòng tin của các thành viên đối với IIP đã tăng lên và xuất hiện một cách cụ thể trong tất cả các hội nghị bộ trưởng tiếp theo (Hindley năm 2006, trang 33). Kết quả duy nhất là việc thực thi Hiệp định TRIPS vẫn tiếp tục được đưa ra và Hội nghị Bộ trưởng Bali gần đây (3-7 tháng 12 năm 2013) đã không đạt được kết quả đáng kể (xem, Hội nghị Bộ trưởng WTO năm 2013). Do đó, không ngạc nhiên rằng hệ thống này không thể là câu trả lời cho những thách thức mới, như bảo vệ công bằng tri thức truyền thống.
Theo ssrn.com - PT
Các tin khác
- Nhu cầu thị trường cá ngừ đóng hộp EU tăng trưởng mạnh - 08/09/2014
- Thế giới đang quay lưng với toàn cầu hóa? - 08/09/2014
- EU dưới sức ép cho phép nhập khẩu thực phẩm biến đổi gen từ Mỹ và Canada - 06/09/2014
- Các nhà bán lẻ châu Âu yêu cầu Chương trình nghị sự đầy tham vọng để duy trì năng lực cạnh tranh - 04/09/2014
- EU hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm của Nga - 04/09/2014






















