Các tác động từ hội chứng chết sớm ở tôm (EMS), chi phí thức ăn chăn nuôi tăng và áp lực từ khách hàng châu Âu và Mỹ là những yếu tố gây áp lực lên cơ cấu của ngành tôm châu Á, ông Daniel Fegan, một nhà quản lý kỹ thuật nuôi trồng thủy sản của Viện dinh dưỡng vật nuôi Cargill cho biết.
"Ngành tôm châu Á đã có chiều dài hoạt động hơn 30 năm và bây giờ khu vực này là nguồn sản xuất lớn trên thế giới. Tuy đã vượt qua nhiều khó khăn trong quá khứ, hiện ngành tôm Châu Á đang phải đối mặt với những thách thức đáng kể. Các thử thách này gồm quản lý sức khỏe, tối ưu chi phí sản xuất, nhu cầu thị trường, khả năng cạnh tranh với các loại thực phẩm khác; và cạnh tranh nguồn lực. Nhu cầu phát triển bền vững và công bằng xã hội, tăng sử dụng năng lượng ở châu Á, những thay đổi trong công việc và mô hình tiêu thụ đều có tác động đến các nhà sản xuất.", ông Fegan nói.
Ngành tôm ở châu Á vẫn còn "phụ thuộc nhiều vào những người nông dân có quy mô sản xuất nhỏ, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn sinh học và an toàn thực phẩm rộng rãi cho toàn ngành." Vì vậy, việc thiết lập các cụm hoặc các khu canh tác hợp nhất là rất cần thiết.
"Ngành tôm châu Á hiện thiếu một tầm nhìn rõ ràng và chiến lược phát triển trong tương lai.", ông Fegan nhận xét.
Hầu hết nông dân nuôi tôm Châu Á đều không hiểu vai trò của họ trong chuỗi cung ứng lương thực toàn cầu. Điều này dẫn đến sự thiếu cam kết từ các nhà sản xuất châu Á trong việc định hướng xây dựng các tiêu chuẩn và chứng nhận toàn cầu. Trong khi đó, các khách hàng từ EU và Mỹ lại đòi hỏi những tiêu chuẩn và chứng nhận toàn cầu này. Bên cạnh đó, nông dân nuôi tôm cũng "thiếu kiến thức về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, truy xuất nguồn gốc và công bằng xã hội, như trường hợp gần đây của Thái Lan", Fegan cho biết. "Các nhà bán lẻ đang ngày càng quan tâm nhiều hơn về cách thức và nơi thực phẩm được sản xuất, và điều này khiến nhà sản xuất phải chịu gánh nặng lớn hơn.”
EMS - sự cố chực chờ xảy ra
Sự bùng nổ trong việc sản xuất tôm thẻ chân trắng ở châu Á đã dẫn đến việc nới lỏng các tiêu chuẩn khiến EMS có cơ hội lây lan. "Mười năm qua, vấn đề dịch bệnh trên tôm tương đối ít, nhưng hiện chúng ta phải đối mặt với dịch bệnh tồi tệ nhất từ trước đến nay. EMS có thể tạo ra sự thay đổi lớn ở cơ cấu ngành tôm”, Fegan nói.
Sự lây lan của căn bệnh vừa do kiểm soát lỏng lẻo, vừa do thiếu kết nối thông tin giữa các quốc gia sản xuất tôm. EMS có thể đã xuất hiện ở Trung Quốc trong năm 2009, rồi di chuyển đến Việt Nam trong năm 2010, vào Malaysia năm 2011 và Thái Lan năm 2012, sau đó đến Mexico năm 2013. "Không công nhận hoặc không thông báo về sự bùng nổ của EMS đã khiến việc ứng phó trễ mất hai năm”, ông Fegan nói.
Cần phải có hệ thống đánh dấu các đối tượng có nhiều nguy cơ và các nhà sản xuất không tốt trong khu vực, vì nhiều nhà sản xuất vẫn chấp nhận những rủi ro rất lớn một cách vô tình hoặc cố ý, và điều này sẽ khiến toàn ngành lâm vào nguy cơ nếu có chuyện không may xảy ra. Ngành tôm Châu Á cũng "thất bại trong việc bảo đảm chất lượng tôm giống (PL); công tác chuẩn bị ao nuôi; chất lượng nước; và an toàn sinh học ".
Tôm chất lượng cao hơn thường đòi hỏi chi phí lớn, do đó ngành tôm Châu Á cần quản lý tốt hơn các chương trình chọn lọc di truyền. Đồng thời, khi nông dân đã bắt kịp với tiến độ gia tăng sản xuất thì thời gian chuẩn bị dành cho công tác chuẩn bị ao nuôi nên dần được rút ngắn. Nên tăng đầu tư cho ao nuôi vì điều này sẽ giúp phòng chống EMS và các bệnh khác.

Thức ăn cho tôm
Việc sản xuất thức ăn cho tôm vẫn phụ thuộc lớn vào bột cá và dầu cá cần phải được xem xét và chuyển dịch. Nông dân thường thích thức ăn cho tôm có thành phần bột cá và dầu cá cao, nhưng người ta vẫn chưa rõ điều này có thật sự cần thiết cho tôm hay không. Thành phần protein thô từ lâu đã trở thành thước đo chất lượng của thức ăn cho tôm, nhưng điều này thật sự chỉ có tác dụng làm tăng chi phí thức ăn.
Ngoài ra, cần phải phát triển thêm thành phần dinh dưỡng trong thức ăn. "Nghiên cứu về dinh dưỡng cho tôm vẫn còn những khoảng trống rất lớn. Cần phát triển thêm các kiến thức về mức độ tương quan giữa lượng thức ăn và tốc độ tăng trưởng của tôm, cũng như nên quan tâm nhiều hơn đến tỷ lệ tiêu hóa của tôm đối với các thành phần protein."
Ngành tôm cần phải có sự lựa chọn khác trong vấn đề thức ăn và từ bỏ việc phụ thuộc vào bột cá, do giá cả thành phần này ngày càng tăng cao. Các lựa chọn thay thế có thể là mực, giáp xác, vi sinh vật, hoặc tảo.
Một số điểm tích cực
Nhìn chung, các nhà sản xuất châu Á sản xuất được tôm có chất lượng tốt. Khu vực này cũng mạnh về đổi mới và thích nghi. Ngoài ra, khu vực này có rất giàu kinh nghiệm với những người nông dân đã có hơn 25 năm trong nghề. Ngành tôm châu Á cũng có "mạng lưới hỗ trợ tốt ở hầu hết các nước trong khu vực.” Ngành tôm Châu Á cũng có cơ hội phát triển tại các thị trường lớn hiện nay, đồng thời phát triển thị trường trong nước và các thị trường lân cận, chẳng hạn như Trung Quốc.
Tuy nhiên một số điểm mạnh lại đi kèm với những rủi ro. Ví dụ như hỗ trợ của Chính phủ cũng có nhược điểm. Chính phủ có thể áp đặt các biện pháp mà họ nghĩ là sẽ hỗ trợ tốt cho ngành tôm nước mình, nhưng thực tế lại không như vậy. Ngoài ra, trước bối cảnh AEC đi vào thực thi năm 2015, thật khó để dự đoán ngành tôm sẽ phản ứng như thế nào trước thay đổi này. Câu hỏi đặt ra là, khi ASEAN trở thành một thị trường và một cơ sở sản xuất duy nhất, ngành tôm của các thành viên ASEAN có chuyển từ cạnh tranh sang hợp tác không? Khi đó, nếu dịch bệnh xảy ra ở ngành tôm Thái Lan thì đây sẽ là dấu hiệu tốt cho Việt Nam, hay ngược lại?
Theo undercurrentnews.com - TV
Từ khóa: Cơ cấu, ngành tôm, Châu Á, thay đổi, thích ứng, thị trường, áp lực, sản xuất
Các tin khác
- Mỹ chiếm ưu thế trước Argentina trong tranh chấp hạn chế cấp phép nhập khẩu. - 28/08/2014
- Ấn Độ bỏ qua hiệp định thương mại dịch vụ với ASEAN - 28/08/2014
- Washington và Bắc Kinh ký thỏa thuận thương mại gạo vào đầu năm tới - 28/08/2014
- Trung Quốc, cơ hội lớn cho nông dân Mỹ - 28/08/2014
- Thủ tục mới xuất khẩu hải sản vào thị trường châu Âu - 27/08/2014






















