JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTin quốc tếDoha - “bàn đạp” cho luật lệ thương mại tài nguyên thiên nhiên tốt hơn

Doha - “bàn đạp” cho luật lệ thương mại tài nguyên thiên nhiên tốt hơn

Giám đốc Pascal Lamy, trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị nguyên liệu thô của Liên đoàn công nghiệp Đức được tổ chức ở Berlin ngày 26/10/2010, đã phát biểu rằng hợp tác các luật lệ của thương mại nguồn tài nguyên là lựa chọn duy nhất cho chủ nghĩa dân tộc kinh tế và xung đột. Ông cũng nói thêm rằng kết thúc Vòng đàm phán Doha sẽ đóng góp cho việc khai thác tốt hơn thương mại tài nguyên thiên nhiên.

Tại hội nghị, Tổng giám đốc Pascal Lamy đã trình bày về sự phát triển gần đây của nguyên liệu thô, sự phức tạp của thương mại và chính sách thương mại trong lĩnh vực này, thách thức đối với quy định quốc tế về thương mại nguyên liệu thô.

Tổng quan ngắn gọn về thương mại nguyên liệu thô

Tổng Giám đốc Pascal Lamy đã định nghĩa nguyên liệu thô là một loại nguyên liệu có những đặc tính vật lý đặc biệt bao gồm dầu thô, khoáng sản và sản phẩm lâm nghiệp được dùng làm nguyên liệu đầu vào trong sản xuất của phần lớn hàng hóa và dịch vụ.

Thương mại nguyên liệu thô phát triển nhanh từ năm 2000 đến 2008, chủ yếu là kết quả của việc tăng giá hàng hóa. Con số gần đây nhất chỉ ra rằng tổng xuất khẩu của thế giới về nguyên liệu thô có giá trị 2.4 nghìn tỉ đô la Mỹ, chiếm 19% thương mại thế giới, trong đó khoảng 15% là chất đốt và 4% không phải là chất đốt.

Nhà nhập khẩu hàng đầu về nhiên liệu thô năm 2009 là Liên minh châu Âu với 20% tổng nhập khẩu thế giới, tiếp theo là Hoa Kỳ với 15%. Nhưng sự tăng trưởng nhanh của nhu cầu nhập khẩu trong những nền kinh tế mới nổi đang làm thay đổi mô hình thương mại thế giới. Đặc biệt, Trung Quốc và Ấn Độ đã tăng đột ngột thị phần của họ về nhập khẩu nguyên liệu thô của thế giới. Thị phần của Trung Quốc tăng hơn gấp đôi, từ 5% trong năm 2000 lên tới 12% trong năm 2009, trong khi đó thị phần của Ấn Độ tăng từ 3% lên 5%.

Thương mại quốc tế về nguyên liệu thô mở ra nhiều cơ hội cho việc hưởng phúc lợi lẫn nhau nhưng cũng mang đến những thách thức đáng lo ngại. Nhiều nguyên liệu thô được tập trung nhiều ở một số nơi. Sự phân bố không đồng đều giữa các quốc gia này là nguồn gốc của sự căng thẳng quốc tế, nhưng cũng là nguyên nhân chính giải thích tại sao nhiều nước thu lợi nhuận từ thương mại. Thương mại mở cửa cho phép các thành viên tham gia tăng phúc lợi của họ bằng cách chuyển dịch nguồn tài nguyên từ khu vực tương đối dư thừa đến khu vực tương đối khan hiếm.

Tuy nhiên, lý thuyết và kinh nghiệm thực tế cũng chỉ ra một số thách thức cụ thể đối với những lĩnh vực này. Sự phức tạp gia tăng từ sự thật nguyên liệu thô đang cạn kiệt và việc chế xuất, tiêu thụ có thể liên quan đến những ảnh hưởng môi trường đáng chú ý. Biến động giá cao của nguyên liệu thô trên thị trường quốc tế gây tổn thương cho cả nước nhập khẩu và xuất khẩu. Sự thống trị của công nghiệp chế xuất nguồn tài nguyên trong những nước nhỏ có thể tạo ra sự phụ thuộc một lĩnh vực, điều này là một mối lo ngại cho chính sách phát triển.

Những đặc tính không bình thường này cần các thành viên suy nghĩ kỹ lưỡng về thiết kế và thực hiện chính sách nội địa và chính sách thương mại và tính chất thích hợp của luật lệ quốc tế và các cơ quan thi hành những chính sách này.

Chính sách thương mại và nguyên liệu thô: biện pháp chính và ảnh hưởng của nó

Ông Pascal Lamy cũng trao đổi về các chính sách thương mại. Theo ông, chính sách xuất khẩu, hơn là các hạn chế nhập khẩu, chi phối thương mại nguyên liệu thô. Tỉ lệ thuế nhập khẩu trong lĩnh vực nguồn tài nguyên nhìn chung là thấp hơn thương mại hàng hóa nói chung. Ví dụ, thuế ở các nền kinh tế phát triển trung bình là 1.4%. Mặt khác, sự hạn chế về số lượng và thuế xuất khẩu trong lĩnh vực này gấp đôi so với các lĩnh vực khác.

Hơn nữa, có một số chính sách khác ảnh hưởng đến nguyên liệu thô. Thứ nhất, một số biện pháp nội địa, trợ cấp, chẳng hạn như trợ cấp chất đốt, và cơ chế kiểm soát giá, chẳng hạn như phối hợp giá được sử dụng rộng rãi. Thứ hai, trong khi đánh thuế nguyên liệu thô thấp, thuế nhập khẩu có xu hướng tăng cùng với giai đoạn chế xuất. Ví dụ, trong lĩnh vực khai thác mỏ, thuế nhập khẩu trung bình được đánh vào hàng hóa đã được chế xuất cao hơn 3 lần thuế nhập khẩu nguyên liệu thô. Hiện tượng này – biệt ngữ của WTO gọi là “gia tăng thuế nhập khẩu”- đặc biệt thể hiện rõ ở các nước phát triển.

Các chính phủ thường sử dụng hạn chế thương mại để giải quyết  những đặc tính riêng của lĩnh vực nguyên liệu thô. Nhưng, những hạn chế này có thể có những ảnh hưởng bị bóp méo không thể tránh khỏi mà các thành viên cần hiểu rõ.

Các thành viên của WTO cố gắng bào chữa cho việc can thiệp chính sách trong thương mại nguyên liệu thô liên quan đến các nguyên nhân phúc lợi, bao gồm bản chất bị cạn kiệt của nguồn tài nguyên, tác động môi trường của chế xuất, mục tiêu phát triển của các quốc gia giàu nguồn tài nguyên hoặc nhu cầu đa dạng hóa cơ sở xuất khẩu của họ. Những thành viên này cũng đưa ra lý do rằng luật lệ của WTO thừa nhận những đặc tính riêng này và cho phép linh động chính sách như thế đối với các thành viên của WTO. Tuy nhiên, một số thành viên khác muốn các quốc gia xem xét sự căng thẳng giữa các mục tiêu nội địa hợp pháp mà họ đang tuân theo, và sự thật rằng các biện pháp thương mại có thể áp đặt giá cao hơn mức cần thiết cho các quốc gia áp dụng biện pháp thương mại cũng như mô hình thương mại của họ.

Một số chính phủ lựa chọn dựa vào thuế xuất khẩu để giảm tỉ lệ chế xuất vì lý do môi trường, hoặc bảo vệ nguồn tài nguyên cho thế hệ tương lai. Một số chính phủ khác tin rằng lối tiếp cận này là không phù hợp. Họ tranh luận rằng thuế xuất khẩu tạo ra một sự chênh lệch giữa giá nội địa của nguyên liệu thô và giá của nó trên thị trường quốc tế. Theo quan điểm của họ, sự phân tán giá này mang lại hai hậu quả tiêu cực. Thứ nhất, họ đưa ra lý do rằng giá nội địa thấp hơn của nguồn tài nguyên có thể khuyến khích tiêu dùng lãng phí. Kết quả là biện pháp thương mại tác động đến chính sách bảo tồn không hiệu quả. Thứ hai, những người chống đối thuế xuất khẩu tranh luận rằng việc tăng giá quốc tế của nguồn tài nguyên làm giảm phúc lợi của các quốc gia nước ngoài cần nguyên liệu thô trên thị trường.

Quy định của thương mại nguyên liệu thô: tình thế hiện tại

WTO đã không đạt được một hiệp định quy định riêng cho thương mại nguyên liệu thô nhưng một vài luật lệ đang tồn tại cũng đã giải quyết những đặc tính riêng của lĩnh vực này.

Nguyên tắc không phân biệt đối xử, hạn chế được áp đặt bởi cam kết thuế nhập khẩu và tự do quá cảnh hàng hóa đều có mục đích duy trì hệ thống thương mại mở và có thể dự đoán được. Sự tồn tại của hệ thống như thế là rất cần thiết trong việc đảm bảo rằng nguồn tài nguyên được tập trung nhiều về mặt địa lý có thể được trao đổi dựa trên cơ sở cùng nhau có lợi.

Luật lệ của WTO cũng trông chờ những ngoại lệ chẳng hạn như ngoại lệ liên quan đến bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt và những ngoại lệ nhằm mục đích bảo vệ con người, động vật, thực vật hoặc sức khỏe.

Rõ ràng, WTO không phải là một hòn đảo, nhưng là một phần không thể thiếu trong khuôn khổ hợp tác quốc tế rộng rãi hơn. Nhiều vấn đề liên quan đến nguyên liệu thô đã được quy định ngoài WTO. Những vấn đề như làm chủ nguồn tài nguyên thiên nhiên, chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường hoặc cuộc chiến chống lại hối lộ trong giao dịch kinh doanh quốc tế là chủ đề chính của rất nhiều luật hiệp ước ngoài phạm vi WTO.

Quy định của thương mại nguyên liệu thô: Vòng đàm phán Doha

Sự khác biệt quan trọng của quyền lợi tồn tại giữa các quốc gia trong lĩnh vực này nhưng có một số điểm mà sự cân bằng lợi ích có thể đạt được. Một trong số đó hiện đang được đàm phán trong Vòng đàm phán Doha. Ông Pascal Lamy đã đưa ra một số ví dụ minh chứng.

Vấn đề đầu tiên liên quan đến quá cảnh hàng hóa. Trách nhiệm về tự do quá cảnh hàng hóa tại Điều V của Hiệp định GATT rất quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho cung ứng nguồn tài nguyên thô quốc tế. Tuy nhiên, quan điểm lựa chọn về phạm vi của Điều V trong mối liên hệ với vận tải qua cơ sở hạ tầng cố định, chẳng hạn như đường ống, tạo ra sự không chắc chắn về kiểm soát. Điều không chắc chắn này điều khiển giá cả kinh tế. Vòng đàm phán Doha cố gắng giải quyết vấn đề không chắc chắn này theo chỉ dẫn tạo thuận lợi thương mại trong đàm phán.

Vấn đề quan tâm thứ 2 là khai thác bền vững nguyên liệu thô. Sử dụng thiếu cẩn thận những tài sản quý hiếm này của xã hội ngày nay có thể ảnh hưởng nặng nề đến xã hội ngày sau. Mở cửa thị trường hàng hóa sử dụng hiệu quả năng lượng hoặc sử dụng năng lượng có thể tái tạo trong bối cảnh của Vòng đàm phán Doha sẽ giúp giảm áp lực lên nguyên liệu thô được cung cấp có giới hạn. Tương tự, sự cải thiện nguyên tắc trợ cấp sẽ làm giảm sự khuyến khích tiêu thụ vượt quá mức nguồn tài nguyên đang khan hiếm hoặc có ảnh hưởng môi trường tiêu cực.

Vấn đề thứ ba được giải quyết hiện nay trong Vòng đàm phán Doha là giảm sự gia tăng thuế nhập khẩu. Vấn đề này thực sự là về sự phát triển vì thuế nhập khẩu cao hơn được áp dụng vào sản phẩm  có giá trị cao hơn được thêm vào ảnh hưởng đến phần lớn các quốc gia có cơ sở xuất khẩu ít phong phú.

Trong khi nhận thức đúng đắn về sự cân bằng này thường không dễ, kết thúc thành công của Vòng đàm phán Doha sẽ đóng vai trò như một bàn đạp cho luật lệ thương mại quốc tế nguồn tài nguyên tốt hơn.

Quy định của thương mại nguồn nguyên liệu thô: thách thức trong tương lai

Ông Pascal Lamy đã phát biểu rằng nhiều thách thức vẫn sẽ chờ cộng đồng quốc tế giải quyết trong tương lai.  Ông cũng đã nói ngắn gọn về những thách thức này.

Vấn đề thứ nhất  liên quan đến chính sách thương mại. Các thành viên WTO có thể có các cam kết ràng buộc về sử dụng thuế xuất khẩu cũng như cam kết ràng buộc liên quan đến thuế nhập khẩu nhưng phần lớn các thành viên không làm như vậy. Một loạt hoàn cảnh có thể biện minh cho sự cần thiết cho sự linh động chính sách, thiếu cam kết về thuế xuất khẩu cũng đi kèm với chi phí.

Vấn đề thứ hai liên quan đến chính sách nội địa. Khi nguyên liệu thô được tập trung nhiều ở một số nước, biên giới giữa thương mại và chính sách nội địa thường không được thể hiện rõ ràng, nghĩa là thương mại và biện pháp nội địa có thể gần như được thay thế nhau. Người ta tranh luận rằng thuế tiêu thụ hoặc quy định nội đia có thể có ảnh hưởng tương tự nhau đến thuế nhập khẩu trong các quốc gia nhập khẩu nguồn tài nguyên. Tương tự, một số người tin rằng hạn ngạch sản xuất hoặc thiếu sự bắt buộc của chính sách cạnh tranh trong các quốc gia giàu tài nguyên có thể có hậu quả tương tự như hạn chế xuất khẩu nguồn tài nguyên thô. Thêm vào đó, khuôn khổ luật cạnh tranh quốc tế đã tồn tại. Tập trung vào một biện pháp duy nhất có thể không đủ để đạt được thương mại không bị bóp méo.

Vấn đề thứ ba liên quan đến việc thiết kế các cơ quan liên minh. Nhiều vấn đề liên quan đến nguyên liệu thô được quy định bởi luật lệ ngoài WTO. Trong bối cảnh này, sự liên kết rất quan trọng vì nhiều cuộc trao đổi không thể tránh khỏi về các vấn đề quốc tế xung quanh nguyên liệu thô sẽ tiếp tục trên một số mặt trận đa phương. Một số thách thức có thể được giải quyết có hiệu quả chỉ duy nhất qua sự kiểm soát toàn cầu tốt hơn.

Kết luận

Cuối bài phát biểu của mình, Ông Pascal Lamy đã có hai đề nghị.

Thứ nhất, nguyên nhân sâu xa của căng thẳng quốc tế đã quy định thương mại nguyên liệu thô liên quan đến sự phức tạp hiển nhiên của lĩnh vực này. Lối tiếp cận của các thành viên phải đi kèm và nhạy cảm với thực tế.

Thứ hai, sự hợp tác về luật lệ thương mại nguồn tài nguyên là lựa chọn duy nhất cho dân tộc kinh tế và xung đột. Luật lệ phải công bằng và có hiệu quả và bắt buộc bởi các tổ chức liên minh hợp pháp mạnh mẽ và có tính liên kết.

Kết thúc Vòng đàm phán Doha sẽ góp phần vào việc khai thác tốt hơn thương mại nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nó có thể cung cấp câu trả lời cho nhiều mối quan tâm của mọi người.

Dịch theo trang web http://www.wto.org

Từ khóa :Doha, luật lệ, thương mại, tài nguyên thiên nhiên

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008754974
Go to top