
Tháng trước, Mỹ đã kết thúc đàm phán Hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với Nhật Bản và 10 nước khác. Các quốc gia trong TPP hiện đang chiếm đến 42% tổng số nông sản xuất khẩu của Mỹ, với tổng giá trị 63 tỷ USD. Dưới đây là báo cáo số liệu và đánh giá của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (U.S.D.A)
Thị trường Nhật Bản:
Nhật Bản là một thị trường quan trọng đối với sản phẩm nông nghiệp Mỹ. Năm 2014, Nhật Bản được xếp là một trong 5 thị trường lớn nhất của xuất khẩu nông sản Mỹ (sau Trung Quốc, Canada, Mexico và Liên minh châu Âu) với giá trị hơn 13 tỷ USD. Với dân số 127 triệu người, thu nhập bình quân đầu người cao, ưa chuộng sản phẩm của Mỹ, và có một cơ sở hạ tầng tiếp thị phát triển tốt, Nhật Bản là một thị trường hấp dẫn cho các nhà xuất khẩu Mỹ.
Tổng giá trị thị trường thực phẩm và thức uống của Nhật Bản ước tính trên 650 tỷ USD. Giảm thuế tại Nhật Bản là một mục tiêu dài hạn trong chính sách thương mại của Mỹ, và Mỹ đã không đạt được tiến bộ hướng tới mục tiêu này kể từ khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào năm 1995. Mức thuế trung bình áp cho các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu Nhật Bản là 14% ( so với con số này của Mỹ là 5%). Mức thuế trung bình này chưa phải là quá cao: đối với nhiều sản phẩm thuế quan của Nhật Bản là trên 100% và kèm theo nhiều hạn chế thương mại đáng kể.
Các cuộc đàm phán FTA.
Nhật Bản đã ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với một số quốc gia khác, bao gồm cả đối thủ cạnh tranh của Mỹ như Chile, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Thái Lan, Việt Nam, và Úc. Ngoài TPP, Nhật Bản đang trong quá trình đàm phán thỏa thuận với Liên minh châu Âu, Canada, và Trung Quốc. Trong các cuộc đàm phán, Nhật Bản đã đồng ý cắt giảm thuế quan cho nhiều sản phẩm nông nghiệp, đưa xuất khẩu nông sản của Mỹ vào thế bất lợi. Nhật Bản loại phần lớn (nhưng không hoàn toàn) sản phẩm nhạy cảm của đất nước này ra khỏi thị trường nhập khẩu, chẳng hạn như gạo, thịt lợn, sữa, thịt bò, lúa mì và đường.
TPP.
Theo hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), phần lớn thuế nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp ở Nhật Bản sẽ được loại bỏ. Từng giai đoạn cắt giảm thuế quan khác nhau tùy theo sản phẩm: một số loại thuế sẽ được loại bỏ ngay lập tức khi thỏa thuận có hiệu lực, một số khác sẽ được xóa bỏ dần trong thời gian nhiều năm. Xoá bỏ thuế quan sẽ giúp xuất khẩu của Mỹ có một sân chơi bình đẳng ở Nhật Bản đối với Nhật Bản và các sản phẩm của nước thứ ba và cũng đi trước các đối thủ cạnh tranh ngoài TPP. TPP cũng sẽ cải thiện đáng kể cơ hội tiếp cận với các sản phẩm nhạy cảm nhất của Nhật Bản thông qua việc cắt giảm thuế quan và mở rộng tiếp cận thuế quan theo hạn ngạch. Tổng thống Obama đã thông báo cho Quốc hội Mỹ về dự định của mình khi ký các thỏa thuận TPP sau khi văn bản chính thức đã được xem xét kỹ lưỡng và được phê duyệt bởi từng quốc gia TPP. Thỏa thuận này sẽ hội đủ điều kiện cho một cuộc bỏ phiếu của Quốc hội, theo luật Xúc tiến Thương mại TPA, trong năm 2016.
TPP đem lại lợi ích cho tất cả các lĩnh vực của ngành nông nghiệp Mỹ. Những cơ hội mới tại Nhật Bản chiếm một phần đáng kể của những lợi ích này. Cơ hội theo nhóm sản phẩm được tóm tắt dưới đây.
Thịt bò: Nhật Bản là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Mỹ đối với sản phẩm thịt bò và sản phẩm từ thịt bò, với tổng kim ngạch 1,6 tỷ USD trong năm 2014. TPP sẽ giúp giảm đáng kể thuế nhập khẩu đối với thịt bò Mỹ. Nhật Bản sẽ loại bỏ 74% dòng thuế đối với thịt bò và sản phẩm từ thịt bò nhập khẩu của mình trong vòng 16 năm, cùng với đó là sẽ cắt giảm đáng kể các dòng thuế còn lại. Nhật Bản sẽ giảm thuế cho thịt bò tươi, thịt ướp lạnh, đông lạnh, từ 38,5% xuống còn 9% trong vòng16 năm. Thuế nhập khẩu đối với nội tạng bò (kể cả gan và lưỡi), mà hiện đang ở mức 21,3%, sẽ được loại bỏ trong vòng từ 6 đến 16 năm, trong một số trường hợp cắt giảm ngay 50% mức thuế hiện tại. Thuế các sản phẩm thịt bò chế biến (kể cả thịt bò khô và thịt chiết xuất), hiện đang ở mức 50% sẽ trở về 0% trong vòng từ 6 đến 16 năm.
Thịt lợn: Nhật Bản là thị trường hàng đầu cho thịt lợn và sản phẩm từ thịt lợn của Mỹ, với tổng giá trị xuất khẩu năm 2014 đạt 1,9 tỷ USD. Đối với những sản phẩm thuộc hệ thống "giá gác cửa" của Nhật Bản, sẽ áp thuế giá trị gia tăng. Thuế không cố định, mức thuế tuyệt đối cũng đánh vào thịt nhập khẩu dưới một ngưỡng nhất định, với mục đích đẩy giá thịt lợn nhập khẩu của Nhật Bản lên cao hơn với giá thịt trong nước. Bởi vì Nhật Bản bảo vệ mạnh ngành công nghiệp thịt lợn của mình, trong các hiệp định thương mại song phương trước đó Nhật Bản hoặc đã yêu cầu loại trừ hoàn toàn thịt lợn ra khỏi thỏa thuận hoặc chỉ cắt giảm thuế quan một ít mang tính tượng trưng và cho phép hạn ngạch thuế quan một nhỏ tỷ lệ rất nhỏ. Theo thỏa thuận TPP, Nhật Bản sẽ loại bỏ thuế quan cho hơn 65% dòng thuế sản phẩm thịt lợn và sản phẩm từ thịt lợn trong vòng 11 năm và gần 80% tổng số dòng thuế trong vòng 16 năm. Đối với những sản phẩm mà không loại bỏ thuế, thì sẽ được giảm đáng kể. Mức thuế 20% cho thịt lợn xay và 10% với xúc xích lợn sẽ được loại bỏ trong vòng 6 năm. Thuế suất 4,3% hiện nay đối với thịt lợn tươi, ướp lạnh, đông lạnh ngay lập tức sẽ được giảm một nửa, phần còn lại sẽ được loại bỏ trong vòng 10 năm. Hệ thống "giá gác cửa"sẽ vẫn được duy trì, nhưng Nhật Bản sẽ ngay lập tức giảm mức thuế tuyệt đối đối với thịt lợn mảnh từ mức tối đa trước đó là 482 Yên/kg xuống còn 125 Yên/kg, và tiếp tục giảm xuống còn 50 yên/kg trong vòng 10 năm. Tiến độ này sẽ mở ra thị trường Nhật Bản béo bở cho thịt lợn mảnh giá thành thấp của các nhà xuất khẩu Mỹ.
Sữa: Nhật Bản là thị trường xuất khẩu sữa lớn thứ 6 của Mỹ, với kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt 409 triệu USD. Hầu hết sữa nhập khẩu vào Nhật Bản phải chịu mức thuế cao và thuế suất hạn ngạch, mức thuế trong hạn ngạch lên tới 35% và thuế ngoài hạn ngạch còn cao hơn rất nhiều. Với ngoại lệ của Hiệp định thương mại gần đây với Australia, Nhật Bản đã luôn loại các sản phẩm sữa ra khỏi các hiệp định thương mại song phương trước đây của mình. Theo thỏa thuận TPP, Nhật Bản sẽ đưa ra hạn ngạch thuế quan mới và giảm thuế để mở rộng đáng kể thị trường cho các sản phẩm sữa. Theo thỏa thuận TPP, mức thuế cao với pho mát, hiện đang dao động ở mức 40% sẽ được loại bỏ trong vòng 16 năm. Cam kết này bao gồm thuế cho kem phô mai, bánh pizza pho mát, pho mát bột, pho mát bánh và nhiều loại khác. Tất cả thuế sữa sẽ được loại bỏ trong vòng 21 năm, giúp tạo nên tự do hóa thị trường sữa của Nhật Bản. Thuế nhập khẩu đối váng sữa (whey) dùng cho thực phẩm hiện ở mức rất cao 660,7%. Mức thuế này cũng sẽ được loại bỏ trong vòng 21 năm.
Nhật Bản sẽ đưa ra hạn ngạch chuyển tiếp đối với sản phẩm có hàm lượng váng sữa cao của Mỹ, sữa bột cho trẻ sơ sinh, với tổng công bột váng sữa quy đổi là 5.000 tấn cho năm đầu và tăng lên 9.000 tấn vào năm 11. Nhật Bản sẽ ngay lập tức xóa bỏ thuế 8.5% với đường lactose và xi-rô đường lactose và thuế 2.9% cho đạm sữa bao gồm đạm váng sữa, mà thường được sử dụng trong sản phẩm thực phẩm bổ sung đạm. Thuế quan đối với kem, sữa chua đông lạnh, thực phẩm và các chế phẩm sữa và sản phẩm chứa ca cao đang ở mức 29,8% sẽ được cắt xuống 0% trong vòng 6 đến 11 năm. Thuế quan cao nhất 35,5%đối với kem, sữa chua, phô mai xanh, và toàn bộ sữa bột sẽ được giảm từ 50% đến 90% thùy theo các mức thuế, và dải thuế chỉ còn từ 3% đến dưới 10%. Đối với bơ và sữa bột, Nhật Bản có hai hạn ngạch thuế quan, mỗi hạn ngạch là 3.188 tấn. sau 5 năm, cả hai hạn ngạch thuế quan sẽ là 3.719 tấn. Đối với sữa cô đặc không đường, Nhật Bản sẽ thiết lập một hạn ngạch thuế quan miễn thuế 1500 tấn và sẽ tăng lên 4.750 tấn trong 6 năm, và sữa đặc có đường sẽ có hạn ngạch thuế quan miễn thuế 750 tấn. Cả hai hạn ngạch thuế quan này đều áp dụng cho tất cả các đối tác TPP.
Khoai tây: Nhật Bản là một thị trường quan trọng đối với khoai tây và các sản phẩm khoai tây Mỹ, hiệp định TPP sẽ đem lại lợi ích đáng kể cho các nhà xuất khẩu Mỹ. Khoai tây và các sản phẩm từ khoai tây Mỹ chiếm 78% thị trường Nhật Bản, với kim ngạch lên đến 400 triệu USD vào năm 2014. Theo thỏa thuận TPP, mức thuế 3% hiện hành đối với khoai tây giống và 4.3% đối với khoai tây tươi/ướp lạnh sẽ được loại bỏ ngay lập tức. Mức thuế 8.5%cho khoai tây đông lạnh sẽ được loại bỏ trong vòng 6 năm. Mức thuế 20% đối với khoai tây mảnh sấy, hạt, và bột viên sẽ được loại bỏ trong vòng 6 năm. Mức thuế 20% đối với bột thô, bột tinh khoai tây sẽ được loại bỏ trong vòng 11 năm. Nhập khẩu khoai tây chiên đông lạnh từ Mỹ của Nhật Bản đạt gần 201 triệu USD trong năm 2014. Theo thỏa thuận, Nhật Bản sẽ loại bỏ thuế 8.5% đối với sản phẩm này trong vòng bốn năm. Ngoài ra, mức thuế 9% đối với về " khoai tây làm sẵn đông lạnh khác" sẽ được loại bỏ trong vòng 6 năm.
Lúa mì: Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lúa mì lớn nhất của Mỹ, kim ngạch năm 2014 là 915 triệu USD. Nhật Bản hiện đang nhập khẩu lúa mì thông qua một công ty nhà nước, 5.7 triệu tấn lúa mỳ bằng hạn ngạch thuế quan WTO. Trong khi lúa mì được nhập khẩu hạn ngạch không thuế, thì trên thực tế các thực thể của Nhật Bản, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, ngư nghiệp (MAFF) cộng thêm phí 17 Yên/kg (tương đương 150 mỗi tấn) cho người mua (thường là doanh nghiệp xay xát). Thuế nhập khẩu lúa mì ngoài hạn ngạch thuế quan là 55 yên/kg. Nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan chiếm 90% tiêu thụ lúa mì của Nhật Bản, trong những năm gần đây Mỹ được hưởng một thị phần khoảng 60%. Nhật Bản đã loại lúa mì ra khỏi các hiệp định thương mại song phương trước đây của nó, bao gồm cả với Australia. Theo thỏa thuận TPP, Nhật Bản sẽ thiết lập một hạn ngạch quốc gia mới là 114,000 tấn cho lúa mì của Mỹ và tăng lên 150.000 tấn trong vòng 7 năm, một hành động mà sẽ tạo ra cơ hội xuất khẩu độc quyền cho các nhà cung cấp lúa mì Mỹ. Nhật Bản sẽ cung cấp hạn ngạch tiếp cận thị trường miễn thuế cho lúa mì làm thức ăn ngoài của cơ chế hạn ngạch thuế quan của WTO hiện nay, điều này sẽ tạo hiệu ứng phụ cho việc cung cấp thêm không gian cho nhập khẩu lúa mì miễn thuế dưới dạngthức ăn theo hạn ngạch WTO. Đối với hàng nhập khẩu theo hạn ngạch WTO, Nhật Bản sẽ giảm mức phí 17 yêu/kg lúa mì nhập khẩu khoảng 45% trong 9 năm, tức là từ150 USD/Tấn xuống còn khoảng 83 USD/Tấn. Hành động này được kỳ vọng sẽ giảm chi phí nhập khẩu lúa mì để xay xát của Nhật Bản và mở rộng thị trường lúa mì nhập khẩu trong những năm tới. Đối với sản phẩm lúa mì được chế biến như bánh quy, bánh mì và các sản phẩm khác, Nhật Bản sẽ loại bỏ thuế quan 26% hiện có trong 6 năm. Đối với thuế 30% của mì spaghetti chưa nấu chín và mì ống, Nhật Bản sẽ giảm 60% mức thuế này trong 9 năm. Nhật Bản sẽ đưa ra một hạn ngạch quốc gia miễn thuế mới cho sản phẩm lúa mì được chế biến nhập khẩu từ Mỹ bao gồm bột hỗn hợp, bột nhào, và bánh hỗn hợp, với một khối lượng ban đầu 10.500 tấn mà mở rộng đến 12.000 tấn trong sáu năm. Ngoài ra, Mỹ và các đối tác TPP khác sẽ có quyền truy cập đến bốn hạn ngạch thuế quan miễn thuế mới cho các sản phẩm lúa mì được chế biến ban đầu tổng cộng 27.600 tấn và tăng lên 40.100 tấn trong sáu năm.
Lúa mạch: Nhật Bản là nước nhập khẩu lúa mạch đứng thứ 3 thế giới. Năm 2014 Nhật Bản đã nhập khẩu 362 triệu USD lúa mạch, trong đó hơn 43 triệu USDđến từ Mỹ. Nhật Bản hiện đang duy trì hạn ngạch thuế quan WTO 1.37 triệu tấn lúa mạch và lúa mạch chế biến, bao gồm cả lúa mạch dùng làm lương thực được nhập khẩu trong hạn ngạch thuế miễn thuế. Theo thỏa thuận TPP, Nhật Bản sẽ ngay lập tức loại bỏ thuế đang áp 255% cho lúa mạch nhập khẩu làm thức ăn. Nhật Bản sẽ đưa ra một hạn ngạch thuế quan WTO mới là 25,000 tấn cho lúa mạch không dùng làm lương thực và sẽ tăng lên 65.000 tấn trong 9 năm. Nhật Bản sẽ giảm 45% phí đánhvào lúa mạch nhập khẩu theo hạn ngạch trong 9 năm. Nhật Bản cũng sẽ tạo ra hai hạn ngạch thuế quan TPP cho bột lúa mạch, ngũ cốc, thức ăn viên, và các sản phẩm chế biến thực phẩm, và sẽ tăng lên 615 tấn. Nhật Bản sẽ đưa ra hạn ngạch quốc gia để nhập khẩu hạt ngũ cốc nảy mầm chưa rang của Mỹ, bắt đầu từ 20.000 tấn và tăng dần đến 32.000 tấn trong 6 năm. Ngoài ra,một hạn ngạch quốc gia cho hạt ngũ cốc nảy mầm đã rang của Mỹ cũng sẽ được tạo ra mà bắt đầu ở mức 700 tấn và tăng lên đến 1.050 tấn vào năm thứ 11.
Ngô: Nhật Bản là thị trường hàng đầu cho ngô Mỹ, với giá trị xuất khẩu năm 2014 đạt 2,7 tỷ USD. Mỹ cũng đã xuất khẩu gần 180 triệu USD của các sản phẩm ngô sang Nhật Bản trong năm 2014. Theo thỏa thuận TPP, cơ hội xuất khẩu mới cho các sản phẩm chăn nuôi, bao gồm thịt bò, thịt lợn, gia cầm và sữa sẽ mở rộng nhu cầu đối với ngô và thức ăn khác thành phần của nhà sản xuất chăn nuôi của Mỹ. Cụ thể đối với ngô, thuế suất 0% của Nhật Bản cho ngô Mỹ nhập khẩu làm thức ăn chăn nuôi theo hạn ngạch thuế quan WTO hiện có vẫn sẽ được duy trì. Ngoài ra, Nhật Bản sẽ ngay lập tức loại bỏ một thuế quan 3% hiện đang áp cho ngô nhập khẩu trong hạn ngạch quốc gia. Đối với tinh bột, Nhật Bản sẽ tạo ra một hạn ngạch quốc gia cho ngô của Mỹ và tinh bột khoai tây, bắt đầu từ 2.500 tấn và lên 3.250 tấn vào năm thứ 6, và một hạn ngạch quốc gia 200 tấn bột Alan và tăng lên 250 tấn trong 11 năm. Ngoài ra, Nhật Bản sẽ mở rộng hạn ngạch thuế quan WTO hiện có lên 7.500 tấn cho một số loại tinh bột như ngô, khoai, cao lương, và sắn.
Theo http://m.magicvalley.com/ - PT
Từ khóa: TPP, Nhật Bản, yêu cầu, nông nghiệp
Các tin khác
- Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ các công ty nhỏ khi tham gia TPP - 23/11/2015
- Mỹ thua trong phiên tòa giải quyết tranh chấp cá ngừ với Mexico - 23/11/2015
- Nhập khẩu thép và chính sách thương mại của EU - 23/11/2015
- Bộ trưởng APEC hoan nghênh những tiến bộ trong việc tạo ra khu thương mại mới - 23/11/2015
- EU công bố tạo ưu đãi xuất khẩu dịch vụ cho các nước kém phát triển - 23/11/2015






















