
Trung Quốc chỉ có một thời gian ngắn để xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết.
Việc Trung Quốc trở thành một nền kinh tế lớn trên thế giới là một trong những thay đổi đáng kểđối với trật tự kinh tế thế giới trong thế kỷ qua. Sau cuộc Cách mạng văn hóa, việc Trung Quốc nổi lên thành một cường quốc kinh tế như hiện nay vốn là một việc khó có thể dự doán trước được.
Bốn mươi năm trước, Trung Quốc có một lượng người lao động khổng lồ, hầu hết họ đến từ nông thôn, rất nghèo và thiếu việc làm. Bằng việc hướng tới nền kinh tế thị trường và mở cửa đối với thương mại thế giới, nền kinh tế Trung Quốc đã thay đổi. Một phần quan trọng của sự thay đổi đó là nhiều người trong số những người lao động nông thôn thiếu việc làm đãchọn làm việc trong ngành sản xuất. Nguồn lao động phổ thông dường như vô tận là một phần thiết yếu trong sự phát triển đặc biệt nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc.
Giống như cuộc cách mạng công nghiệp hai thế kỷ trước ở Anh, và quá trình công nghiệp hóadiễn raở Ireland, Singapore và Malaysia gần đây, tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy nhờ vào việccác lao động nông thôn không có kỹ năngchuyển đến làm việc ở các thành phố công nghiệp. Nền kinh tế Ireland và Singapore từ lâu đã sử dụng hết nguồn lao động nông thôn thiếu việc làm.
Trong khi đó, Trung Quốc vẫn còn rất nhiều người dân nghèo ở nông thôn. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh chóng của các siêu đô thịTrung Quốc đang khiến các đô thị này gặp khó khăn lớn trong việc tạo ra đầy đủ các cơ sở hạ tầng để thu hút người nhập cư từ các vùng nông thôn. Mặc dù các nhà chức trách Trung Quốc đã tiến hành một chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng lớn, các siêu đô thị đông đúc này vẫn cần một thời gian rất dài mới xây dựng đủ chỗ ở cho lượng dân cư khổng lồ của mình.
Việc làm bấp bênh
Nhằm làm giảm sự di chuyển lao động, các nhà chức trách Trung Quốc đang thắt chặt việc đăng ký hộ khẩu thành phố đối với những người nhập cư nông thôn. Không thể đăng ký cư trú hợp pháp khiến những người lao động nhập cư bị hạn chế tiếp cận các dịch vụ công cộng, cũng như khiến họ gặp phải tình trạng việc làm bấp bênh.
Điều kiện sống và làm việc rất khó khăn của những người lao động nhập cư từ các vùng nông thôn đã dẫn đến tỉ lệ thay đổi lao động rất cao. Công nhân thường nghỉ việc do điều kiện sống hoặc do không được phép ở lại trong thành phố. Tốc độ thay đổi lao động nhanh chóng này đã gâykhó khăn lớn cho các nhà tuyển dụng. Ngoài ra, sự bất ổn trong yếu tố lao động đã ảnh hưởng đến các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Trung Quốc.
Mặc dù chi phí sử dụng lao động đang tăng lên, giúp nâng cao mức sống cho lao động làm việc ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, nhưng điều này cũng làm nền kinh tế Trung Quốc đang mất dần sức cạnh tranh so với một số nước láng giềng, và các công việc yêu cầu lao động không có nhiều kỹ năng đang dần di chuyển sang những nơi khác. Quá trình này tương tự như quá trình các công việc lao động phổ thông của châu Âu chuyển dần sang các nước khácvài thập kỷ trước đây.
Viện Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội đã làm việc với các chuyên gia Việt Nam trong việc xem xét mô hình kinh tế Việt Nam và việc này đã cung cấp một góc nhìn khác giúp kiểm tra sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc. Các nghiên cứu chung cho thấy nền kinh tế Việt khá nhạy cảm trong vấn đề khả năng cạnh tranh của quốc gia mình so với các nền kinh tế khác như Trung Quốc. Trong những năm gần đây, khigiá trị của đồng nhân dân tệ tăng dần và chi phí lao động ở Trung Quốc tăng cao, hàng loạt công ty đã di chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam.
Mặc dù Việt Nam cũng đang trải qua quá trình di cư của các lao động nghèo ở nông thôn vào các thành phố lớn, quá trình này vẫn còn tồn tại một vài hạn chế so với Trung Quốc. Các lao động nhập cư được chào đón ở lại trong thành phố và điều này giúp tốc độ thay đổi lao động của Việt Nam thấp hơn so với Trung Quốc. Nhờ vậy, nguồn cung ứng lao động ổn định này trở thành một trong những điểm thu hút hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, giống như Trung Quốc, sự tăng trưởng của các thành phố lớnở Việt Nam đang tạo ra các áp lực lớn về vấn đề hạ tầng đô thị. Tại Hà Nội, phần lớn các công nhân đi lại bằng xe máy. Nhưng, với việc tăng thu nhập, quyền sở hữu xe máy sẽ tăng theo, và nếu không có sự đầu tư về cơ sở hạ tầng, thành phố này sẽ nhanh chóng bị “nghẹt thở”. Tương tự, thành phố Hồ Chí Minh cũng đang gặp khó khăn lớn về vấn đề giao thông. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì đầu tư cơ sở hạ tầng ở mức độ cao.
Sự phát triển kinh tế của Trung Quốcthường được xem là một mối đe dọa cho sự thống trị của các nền kinh tế phát triển, nhưng đây là một quan niệm sai lầm. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới gần đây đã chỉ rõ rằng sự tăng trưởng của Trung Quốc cũng sẽ giúp cho sự tăng trưởng ở châu Âu và Mỹ. Việc nền kinh tế Trung Quốc đã tiếp tục phát triển và vẫn là một thị trường nhiều tiềm năng tronggiai đoạn châu Âu và Mỹ đang phải trải qua cuộc Đại suy thoái là một điều tốt.
Trong 20 năm tới, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn. Chính sách một con của Trung Quốc đồng nghĩa với số lượng lao động trẻ gia nhập thị trường việc làm sẽ giảm nhanh chóng. Nếu người lao động Trung Quốc tiếp tục nghỉ hưu ở tuổi 60, đến năm 2030 tỷ lệ người lao động về hưu sẽ giảm nhanh chóng từ 5:1 hiện tại xuống còn 2:1.
Sự gia tăng tỷ lệ dân số già sẽ tạo ra những thách thức thực sự, và gánh nặng thuế sẽ tăng lên đáng kể. Trung Quốc không có một hệ thống phúc lợi xã hội theo kiểu phương Tây, do đó các cá nhân đang phải cố gắng bảo đảm tương lai khi về hưu của mìnhbằng cách tiết kiệm. Tất nhiên sẽ có một số hình thức phúc lợi được đưa ra, nhưng với tỷ lệ dân số không thuận lợi như hiện nay thì giá của các hình thức phúc lợi này sẽ không rẻ.
Trung Quốc chỉ có một thời gian ngắn để xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết để trở thành một đất nước hiện đại phát triển. Và Trung Quốc đang đối diện nguy cơ dân số sẽ già trước khi kịp hoàn thành sự phát triển và gia nhập vào hàng ngũ các quốc gia giàu có nhất thế giới.
Các nước đối thủ
Trung Quốc có thể sớm bắt đầu bàn giao lại lợi thế lao động cho các nước khác, chẳng hạn như Việt Nam và Ấn Độ. Mặc dù khả năng sinh sản của cả 2 quốc gia này đang giảm, nhìn chung vấn đề nhân khẩu học ở Việt Nam và Ấn Độ trên cơ bản vẫn thuận lợi hơn Trung Quốc.
Châu Âu không nên xem Trung Quốc là một mối đe dọa, mà nên xem Trung Quốc như một đối tác tiềm năng. Tăng trưởng của Trung Quốc đã mở ra những thị trường mới có tiềm năng lớn cho các sản phẩm và dịch vụ của châu Âu. Dù hiện tại, thị trường Trung Quốc đang thu hút sự quan tâm rất lớn, nhưng trong thập kỷ tới, các nước như Ấn Độ và Việt Nam sẽ có khả năng tăng trưởng nhanh hơn.
Nguồn: http://www.irishtimes.com - TV
Từ khóa: Trung Quốc, đối mặt, những thách thức, châu Á
Các tin khác
- IMF giữ nguyên mức dự báo đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu - 17/01/2017
- Quốc hội Nepal phê chuẩn Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại - 17/01/2017
- RCEP là tín hiệu tích cực cho toàn cầu hóa - 17/01/2017
- IMF nâng dự báo về tăng trưởng GDP của Trung Quốc năm 2017 - 17/01/2017
- Australia - Nhật Bản gây sức ép với Mỹ về TPP - 17/01/2017






















