
Cách tiếp cận của Ấn Độ trong đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương một lần nữa đối mặt với nhiều chỉ trích. Sự quan ngại ngày càng gia tăng khi Ấn Độ vấp phải cáo buộc cho rằng trì hoãn đưa ra kết luận đàm phán. Một trong số này là Hiệp định Quan hệ Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), bao gồm Ấn Độ, Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand và 10 nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Cả hiệp định RCEP và FTA hiện chưa rõ tương lai với Liên minh châu Âu (EU), Ấn Độ đều bị chỉ trích là trì hoãn và làm tắc nghẽn tiến trình đàm phán. Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ, bà Nirmala Sitharaman, đã bác bỏ những cáo buộc này và đổ lỗi cho các đối tác khác không thực sự thiện chí đàm phán. Bà chỉ trích các nhà đàm phán EU đưa ra những yêu cầu cắt giảm thuế sâu hơn nữa trong các lĩnh vực nhạy cảm của Ấn Độ như nông nghiệp, sữa và ô tô, trong khi lại không đồng ý cho việc di chuyển thể nhân dễ dàng hơn tại thị trường của họ.
Một số thành viên Chính phủ Ấn Độ đang kêu gọi sự tham gia chủ động hơn nữa trong các cuộc đàm phán nhằm tạo điều kiện nhanh chóng kết luận cho những FTA, thậm chí điều này cần phải đi cùng sự thỏa hiệp.
Cách tiếp cận của Ấn Độ trong đàm phán FTA rõ ràng là “không thương lượng” và phòng thủ quá mức, dẫn đến sự thiếu hiệu quả. Đàm phán Hiệp định RCEP là ví dụ điển hình. Các đối tác tham gia RCEP mong muốn Ấn Độ giảm thuế đối với nông nghiệp và các sản phẩm sữa vì các thành viên như Australia, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và New Zealand có lợi thế cạnh tranh trong các lĩnh vực này và muốn tiếp cận nhiều hơn thị trường rộng lớn của Ấn Độ.
Trong khi đó, Ấn Độ xem cắt giảm thuế nhập khẩu là vấn đề “không thể thương lượng” vì những lý do chính trị bên trong. Các thành viên RCEP biết điều này, nhưng sự hấp dẫn của thị trường Ấn Độ ở vào thời điểm nhu cầu của Trung Quốc ngày một suy yếu buộc các nhà đàm phán giữ vững lập trường thâm nhập sâu nhất có thể vào thị trường nước này, nhưng có vẻ họ chưa thành công.
Về phần mình Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu dịch vụ. Rất nhiều trong số này là hoạt động xuất khẩu liên quan đến các chuyên gia Ấn Độ đi nước ngoài và làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) cũng như các dự án phần mềm khác. Các nhà cung cấp dịch vụ của Ấn Độ đã góp phần bù đắp cho sự thiếu hụt về lao động có kỹ năng tại thị trường lao động của nhiều nước tiên tiến, đặc biệt trong ngành công nghiệp như dịch vụ y tế, giáo dục đại học, tài chính và nhân lực. Cộng đồng người lao động ở nước ngoài là nguồn đóng góp quan trọng vào lượng kiều hối của Ấn Độ.
Đó là lý do Ấn Độ đòi hỏi quyền lao động dễ dàng cho các chuyên gia của mình từ các nước tham gia RCEP. Tuy nhiên, với nhiều quốc gia, việc cấp quyền làm việc cho các chuyên gia nước ngoài cũng lại là một vấn đề nhạy cảm về chính trị và do đó là “không thể thương lượng”. Việc các bên liên quan đều xem một nội dung đàm phán là “không thể thương lượng” dẫn đến bế tắc, trừ khi các bên lựa chọn một cách tiếp cận linh hoạt hơn.
EU yêu cầu Ấn Độ hạ thấp hàng rào thuế quan đối với sản phẩm ô tô và phụ tùng ô tô
Thỏa thuận với EU cũng gặp vấn đề tương tự. EU yêu cầu Ấn Độ hạ thấp hàng rào thuế quan đối với sản phẩm ô tô và phụ tùng ô tô. Tương tự với các nước RCEP, EU đã miễn cưỡng cho phép nhập cảnh dễ dàng hơn đối với các chuyên gia Ấn Độ nhưng đổi lại Ấn Độ chưa thể đáp ứng được yêu cầu từ phía EU do sự phản đổi mạnh mẽ từ ngành công nghiệp ô tô trong nước.
Đó là lý do nhiều thành viên RCEP xem Ấn Độ là nhân tố “phá rối” khi không giống như TPP (thỏa thuận thương mại của 12 nước khu vực châu Á Thái Bình Dương bao gồm cả Mỹ và Nhật Bản), RCEP được xem là thỏa thuận ít tham vọng hơn.
Vì vậy, đến nay Ấn Độ đã không tham gia vào TPP vì hiệp định này vốn bao trùm nhiều vấn đề phức tạp chẳng hạn như mua sắm chính phủ, vai trò của doanh nghiệp nhà nước, lao động và môi trường. Nhưng, trong phạm vi của mình, RCEP vẫn có thể đạt được mục tiêu tiếp cận thị trường lớn hơn cho các thành viên tham gia thông qua khuôn khổ các FTA hiện có.
Loại bỏ thuế quan giữa các thành viên là mục tiêu chính của RCEP, với dự kiến sẽ loại bỏ ít nhất 95% thuế quan. Đây không phải là mục tiêu khó khăn vì mức thuế trung bình giữa các thành viên đã ở mức thấp hơn 5%. Mức thuế trung bình áp dụng của Ấn Độ là khoảng 15%, cắt giảm thuế đồng nghĩa Ấn Độ chỉ phải giảm nhiều hơn trong phần còn lại đó. Không chấp nhận điều này nghĩa là Ấn Độ đã từ chối cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn và điều này chủ yếu gây ra bởi các khó khăn về chính trị.
Vấn đề “không thể thương lượng” trong đàm phán có thể phản tác dụng và tạo ra hiệu ứng cô lập Ấn Độ trong việc tham gia xây dựng nên các nguyên tắc mới trong thương mại khu vực và toàn cầu. Việc kéo dài tiến trình đàm phán với các đối tác RCEP và EU gây ra bởi những khó khăn về chính trị có thể đánh mất đi tiềm năng tiếp cận thị trường châu Âu và châu Á-Thái Bình Dương của các ngành dệt may, dược phẩm, đồ trang sức… Việc đòi hỏi quyền di chuyển thể nhân nhiều hơn nữa cho các chuyên gia Ấn Độ lại là vấn đề phức tạp hơn nữa tại thời điểm nhập cư đang là vấn đề nhức nhối tại các quốc gia phát triển.
Một giải pháp khả dĩ nhằm phá vỡ thế bế tắc hiện nay là tiến hành đàm phán song phương với các thành viên quan trọng trong RCEP. Nếu Mỹ và Nhật Bản có thể giải quyết những khác biệt sâu sắc về vấn đề tiếp cận thị trường trong TPP thì không có lý do gì Ấn Độ không thể làm được điều tương tự với các thành viên như Trung Quốc, Australia, New Zealand hay ASEAN.
Cuối cùng Ấn Độ phải chấp nhận một số nhượng bộ và thỏa hiệp với nhiều sự linh hoạt hơn trong nỗ lực đàm phán nếu muốn tiếp tục theo đuổi một chiến lược thương mại mới.
Tác giả: Amitendu Palit – Chuyên gia nghiên cứu thương mại và chính sách kinh tế, Viện Nghiên cứu Nam Á - Đại học Quốc gia Singapore.
Nguồn : http://www.eastasiaforum.org/ - HP
Từ khóa: Ấn Độ, có thể, đàm phán, chiến lược thương mại mới.






















