JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcRà soát chính sách thương mại của Thái Lan tại WTO

Rà soát chính sách thương mại của Thái Lan tại WTO

WTO-7

Thái Lan là thành viên của WTO từ ngày 1/1/1995 và đã trải qua 6 phiên rà soát chính sách thương mại. Từ ngày 24 - 26/11/2015, các thành viên WTO đã tiến hành phiên rà soát thương mại thứ 7 đối với Thái Lan.

Kể từ phiên rà soát chính sách thương mại năm 2011, các yếu tố căn bản và phối hợp chính sách của Thái Lan đã giúp duy trì ổn định tài chính vĩ mô và đảm bảo sức bật của nền kinh tế mặc dù đối mặt với nhiều thách thức làm ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sau khi tăng trưởng 7,3% năm 2012 nhờ kích cầu tiêu dùng trong nước, tăng trưởng GDP thực tế đã giảm xuống 0,9% năm 2014; các biện pháp kích thích tài khóa và tiền tệ dự kiến giúp tăng trưởng trong năm 2015 và 2016. Sự phát triển của Thái Lan trong số các nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới phản ánh sự cải thiện trong tăng trưởng các nhân tố sản xuất, nhưng cũng có những yếu kém nhất định trong một số lĩnh vực cần phải cải cách. Năm 2014, lạm phát đã giảm xuống 1,9% (bằng một nửa của mức năm 2011), tỷ lệ thất nghiệp đã thay đổi nhanh chóng (0,8%).

Trong giai đoạn rà soát, hạn chế thương mại và các cuộc cải cách cơ cấu liên quan đến thương mại (giá gạo và giá năng lượng) đã được thực hiện. Cải cách trong thời gian dài hướng tới thúc đẩy tăng năng suất bằng cách cải thiện cạnh tranh quốc tế của Thái Lan, và nâng cao tăng trưởng trên cơ sở xem xét các lĩnh vực như thuế, chính sách cạnh tranh, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, quản lý doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy đổi mới và các ngành công nghiệp giá trị gia tăng cao. Để tạo thuận lợi cho khôi phục kinh tế, các gói hỗ trợ tài chính và tiền tệ phải được thực hiện. Đặc biệt hơn, từ tháng 4 năm 2013, Ngân hàng Thái Lan đã từng bước giảm lãi suất từ 2,75% xuống 1,5% và thâm hụt tài chính đã tăng do chi tiêu chính phủ tăng bao gồm cả đầu tư cơ sở hạ tầng. Việc áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý đối với phát triển kinh tế đã góp phần duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và ứng phó tốt hơn với các cú sốc của cán cân thanh toán. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã giảm nhẹ (ngoại trừ năm 2013) trong khi tỷ giá hối đoái thực tăng do tình hình chính trị trong nước, bất ổn từ kinh tế toàn cầu, hoạt động đồng bộ của chính sách tiền tệ của một số ngân hàng trung ương lớn, tình hình kinh tế Hoa Kỳ và một số nền kinh tế ở khu vực đồng euro, và sự linh hoạt của dòng vốn trong thị trường trái phiếu và cổ phiếu khu vực. Thặng dư cán cân vãng lai (2011) đã dịch chuyển sang tăng thâm hụt (năm 2012, 2014) vì nhập khẩu vàng và chuyển lợi nhuận về nước. Năm 2014, cán cân vãng lai đã thặng dư chủ yếu do giảm nhập khẩu sau khi suy giảm kinh tế và giảm giá dầu vào cuối năm.

Độ mở của nền kinh tế Thái Lan đối với thương mại quốc tế, và sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới tiếp tục được phản ánh bởi mức tỷ suất thương mại hàng hóa và dịch vụ trong GDP cao nhưng giảm nhẹ, ở mức 131,8% năm 2014. Thương mại quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng phản ánh tầm quan trọng của Châu Á như một thị trường khu vực chính của Thái Lan và là nhà cung ứng quan trọng, mặc dù Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản vẫn là các đối tác thương mại và FDI chính. Sự đa dạng quan hệ thương mại và đầu tư với Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam và Trung Quốc rất đáng chú ý. Mặc dù thương mại hàng hóa vẫn phụ thuộc lớn vào chế biến vì giảm giá hàng hóa và chính sách giá trong nước, hạn chế cơ cấu tác động ngược chiều đến khả năng cạnh tranh của Thái Lan. Chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn không thay đổi. FDI chảy vào nhiều phân ngành khác nhau như truyền thông, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải, khai khoáng, nhiều doanh nghiệp liên quan đến nghệ thuật, thủ công mĩ nghệ, văn hóa; dịch vụ tài chính; viễn thông và du lịch. Trong nhiều phân ngành khác, việc phê chuẩn chính thức được yêu cầu trước khi đầu tư nước ngoài được triển khai.

Các vấn đề chính trị tiếp tục nổi cộm trong chương trình nghị sự quốc gia của Thái Lan. Sau bạo động quân đội năm 2014, các cơ quan lập pháp mới đã triển khai hoạt động theo hiến pháp lâm thời trong khi hiến pháp mới đang được xây dựng. Một hiệp định thương mại khu vực mới phạm vi từng phần đã có hiệu lực với Peru và một RTA đã được ký kết với Chile. Nhiều RTA khác đang được đàm phán và nước này đang cùng ASEAN từng bước hiện thực hóa Cộng đồng Kinh tế ASEAN. Kể từ tháng 4/2015, Thái Lan đã dành tiếp cận thị trường miễn hạn ngạch miễn thuế cho các nước chậm phát triển. Ưu đãi GSP của Thái Lan ở thị trường Hoa Kỳ, EU và Thổ Nhĩ Kỳ đã được ngừng lại, có thể có tác động bất lợi đối với ngành ôtô.

Thuế quan vẫn là một trong những công cụ chính sách thương mại chính của Thái Lan, và tương đối quan trọng, mặc dù nguồn thu thuế đang giảm dần. Thái Lan thực hiện cắt giảm thuế MFN đơn phương với một số sản phẩm hải sản năm 2014, và xem xét cắt giảm hơn nữa nhằm đơn giản hóa cơ cấu thuế trong năm 2015. Tuy nhiên, hệ quả của thay đổi dòng thuế liên quan đến đưa ra danh mục thuế quan hài hòa HS2012 (hơn 1258 dòng thuế) và thuế tương đối cao hơn, thuế suất MFN áp dụng bình quân đã tăng từ 11,2% năm 2011 đến 13,4% năm 2014. Các sản phẩm phi nông nghiệp tiếp tục đối mặt với thuế suất thấp hơn (bình quân 10,1%) so với sản phẩm nông nghiệp (34,7%). Khoảng 41% thuế suất MFN áp dụng hiện đưa về 0 đến 5%. Thuế suất cao nhất là 218% (ngoài hạn ngạch, dầu hành) và 80% (động cơ mô tô). Cơ cấu thuế đã trở nên tương đối ít phức tạp hơn so cho thấy sự giảm nhẹ trong số lượng thuế MFN áp dụng, năm 2014 ở mức 100 (42 thuế tuyệt đối, 13 thuế cụ thể, 45 thuế thay thế). Việc gia tăng một số dòng thuế (74,6%) là thuế tuyệt đối góp phần tăng cường sự minh bạch thuế quan. Tuy nhiên, mức bình quân đơn của thuế MFN ràng buộc có thể vượt quá mức MFN áp dụng (khoảng 23 điểm phần trăm). Việc thông qua danh mục HS2012 liên quan các thuế suất gia tăng khoảng 600 dòng thuế và giảm 25 dòng thuế; tuy nhiên, vì lộ trình cam kết thuế của Thái Lan vẫn dựa vào Hệ thống mô tả và mã hóa hàng hóa 2002, có thể so sánh tình trạng ràng buộc với biểu thuế HS2012 đã được áp dụng, vì vậy sự chuyển cam kết ràng buộc HS2012 sang giai đoạn cam kết khác. Hạn ngạch thuế quan vẫn áp dụng với 22 mặt hàng.

Trong giai đoạn rà soát, các cải thiện về thuận lợi hóa thương mại bao gồm thay thế hệ thống “thẻ vàng” lợi ích của nhà nhập khẩu được mở rộng hơn. Thái Lan đã ký kết Công ước Kyoto sửa đổi vào tháng 6 năm 2015 và hoàn thành các thủ tục nội bộ để phê chuẩn Hiệp định WTO về Thuận lợi hóa thương mại vào cuối năm 2015. Cấp phép nhập khẩu và cấm nhập khẩu với nhiều loại hàng hóa vì các lý do kinh tế (bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ) vẫn không có thay đổi trong giai đoạn rà soát. Các yêu cầu nhập khẩu mới cho nhập khẩu động cơ ô tô được áp dụng và thông báo tới WTO ngay khi có hiệu lực. Tỷ lệ các tiêu chuẩn quốc gia tương tự các tiêu chuẩn quốc tế vẫn là 32,3%. Các hạn chế dư lượng tối đa với thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm nông nghiệp đã được điều chỉnh năm 2013. Một số thành viên đã quan ngại liên quan đến một số tiêu chuẩn và các biện pháp dán nhãn đối với thịt, phí kiểm dịch thực vật, đồ uống có cồn.. Thái Lan vẫn rất ít dùng các biện pháp chống phá giá, chỉ thực hiện dưới hình thức thuế/phí và chủ yếu liên quan đến hàng hóa xuất xứ từ châu Á.

Hỗ trợ đầu tư vào một số ngành và khu vực xa xôi tiếp tục được thực hiện theo nhiều sáng kiến thuế và phi thuế tương đối phức tạp, hiệu quả chi phí được đặt ra và được đánh giá hệ thống. Hỗ trợ cho SME được triển khai thông qua gói miễn thuế nhằm giúp doanh nghiệp nâng cấp công nghệ. Hỗ trợ cụ thể theo hoạt động với việc dành ngân sách đáng kể cho nông nghiệp và năng lượng có trợ cấp tiêu dùng và trợ cấp ngành (1,7% GDP) được thực hiện thông qua cải cách. Sự tham gia của nhà nước trong 9 ngành lớn của nền kinh tế (nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, chế biến, tài chính, viễn thông, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng, xã hội và công nghệ, các hoạt động dịch vụ khác) phù hợp vơi các doanh nghiệp nhà nước đang bị lỗ, các nỗ lực tư nhân hóa và tập đoàn hóa đang đươc xem xét.

Thái Lan sử dụng mua sắm chính phủ như một công cụ quan trọng của chính sách kinh tế, với ưu đãi giá khoảng 7% cho các nhà cung ứng nội địa. Chính phủ đang dự thảo luật để quản lý rủi ro tham nhũng trong lĩnh vực này. Thái Lan không ký kết Hiệp định Nhiều bên của WTO về Mua sắm chính phủ, trở thành quan sát viên của Ủy ban WTO về Mua sắm chính phủ vào tháng 6 năm 2015. Trong giai đoạn rà soát, đang xem xét các cách thức để tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng cách chuẩn bị ban hành luật mới hoặc điều chỉnh bổ sung trong một số lĩnh vực để hài hòa khung pháp lý với các điều khoản của các hiệp ước quốc tế chưa được ký kết. Mặc dù đã được cải thiện nhưng thực thi IPR hiệu quả vẫn là mối quan ngại. Khung chính sách cạnh tranh, không bao gồm quản lý công, doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã vẫn không thay đổi trong các sửa đổi đề xuất, mở rộng phạm vi điều chỉnh nhưng việc thực thi vẫn khiêm tốn. Nhiều hàng hóa và dịch vụ vẫn là đối tượng của các mức độ kiểm soát giá cả khác nhau…

Thái Lan vẫn là nhà sản xuất và xuất khẩu toàn cầu chính với nhiều sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm chế biến, vẫn thặng dư thương mại trong lĩnh vực này. Nước này cũng tiếp tục theo đuổi chế độ can thiệp vào giá gạo cho đến năm 2014, khi chấm dứt tình trạng chính phủ lâm thời. Nhiều biện pháp hỗ trợ ngắn hạn đã được thực hiện trong giai đoạn 2014-2015, chiến lược dài hạn đối với gạo đã được xây dựng toàn diện. Hạn ngạch thuế quan vẫn đặt ra với 118 dòng thuế và một số trường hợp thuế quan đã hạ thấp. Luật Thủy sản có hiệu lực trong năm 2015, điều chỉnh các biện pháp quản lý nguồn thủy sản phải phù hợp với luật và tiêu chuẩn thủy sản quốc tế cũng như các công nghệ thủy sản mới.

Thái Lan có ngành chế biến rất đa dạng tiếp tục được hỗ trợ bởi các biện pháp tài khóa cũng như bảo hộ thuế quan cao với một số sản phẩm. Qua giai đoạn rà soát, ngành chế biến bị ảnh hưởng của động đất tại Nhật Bản, gây gián đoạn hoạt động cung ứng. Các thách thức phải đối mặt gồm tăng giá, một phần do lương tối thiểu năm 2013, sản xuất hạn chế các sản phẩm công nghệ cao, gia tăng cạnh tranh từ các nền kinh tế khác trong khu vực. Năm 2014, Chính phủ đã phê duyệt định hướng phát triển ngành cao su đang vượt cung và giá thế giới giảm. 

Nguồn: Văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, Bộ Công Thương

Từ khóa: Rà soát, chính sách thương mại, Thái Lan, WTO

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008774782
Go to top