
Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường đang dần trở thành những nội dung quan trọng trong các đàm phán thương mại song phương, đa phương, cũng như các khuôn khổ hợp tác quốc tế, đặc biệt là đối với công nghệ, thiết bị về năng lượng tái tạo, các bon thấp và công nghệ môi trường.
Năm 2014, thương mại toàn cầu đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường đạt khoảng 4 nghìn tỷ USD và ước tính đạt khoảng 10 nghìn tỷ USD vào năm 2020.
Nhận thức được tầm quan trọng của thị trường hàng hóa và dịch vụ môi trường, trong những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách để định hướng và thúc đẩy phát triển, trong đó đặc biệt Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã chỉ rõ nhà nước đầu tư và có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với cá nhân, tổ chức tham gia vào phát triển sản xuất hàng hóa môi trường và cung cấp dịch vụ môi trường.
Theo lộ trình cam kết với WTO, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ môi trường trong hầu hết các phân ngành dịch vụ môi trường của WTO như: Dịch vụ xử lý nước thải; dịch vụ xử lý rác thải; dịch vụ làm sạch khí thải, dịch vụ xử lý tiếng ồn; dịch vụ đánh giá tác động của môi trường.
Hiện trạng cam kết quốc tế về hàng hóa và dịch vụ môi trường của Việt Nam.
|
WTO |
APEC |
ASEAN |
Việt Nam - Nhật Bản |
|
-Hàng hóa môi trường: chưa có -Dịch vụ môi trường: dịch vụ nước thải, dịch vụ rác thải, dịch vụ giảm thiểu tiếng ồn và dịch vụ làm sạch khí thải, dịch vụ đánh giá tác động môi trường -Mở cửa thị trường: đối với 05 nhóm dịch vụ môi trường: nước thải, thu gom chất thải, dịch vụ làm sạch khí thải và giảm tiếng ồn, dịch vụ đánh giá tác động môi trường. -Đối xử quốc gia: Chỉ có một số trường hợp đặc biệt. -- Các công ty cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh ở Việt Nam dưới dạng BOT và BTO -- Một yêu cầu góp vốn của nước ngoài không vượt quá 51% trong 4 năm đầu hoạt động. |
-54 hàng hóa môi trường, gồm: Năng lượng tái tạo; Các thiết bị kiểm soát, phân tích và đánh giá môi trường; Bảo vệ môi trường (chất thải rắn và chất thải nguy hại; quản lý nước thải, kiểm soát ô nhiễm không khí; các sản phẩm thân thiện môi trường -Dịch vụ môi trường: chưa đề cập |
-Hàng hóa môi trường: chưa có -Dịch vụ môi trường: Dịch vụ nước thải; Dịch vụ rác thải; dịch vụ làm sạch; Dịch vụ giảm tiếng ồn; Dịch vụ đánh giá tác động môi trường; Dịch vụ vệ sinh; Dịch vụ bảo vệ thiên nhiên và cảnh quan. Nhiều lĩnh vực cam kết hơn so với WTO -Mở cửa thị trường: Đã mở cửa thị trường đối với hầu hết các phương thức cung cấp dịch vụ -Đối xử quốc gia: Chỉ có một số trường hợp đặc biệt -- Đó là các công ty cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh ở Việt Nam dưới dạng BOT và BTO. --Một số yêu cầu góp vốn của nước ngoài không quá 51% |
-Hàng hóa môi trường: Sản xuất thiết bị xử lý môi trường; Tái chế, tái sử dụng chất thải; Tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính. -Dịch vụ môi trường. |
Nguồn: Trần Huy Hoàn - Viện Nghiên cứu thương mại - Bộ Công Thương
Tại hội thảo về “Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường”, ông Nguyễn Thế Chinh, Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận định mặc dù đã ban hành nhiều quy định chính sách tuy nhiên việc phát triển hàng hóa và dịch vụ môi trường của Việt Nam hiện nay rất yếu, chưa tương xứng với thị trường và nhu cầu trong nước, thị trường Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào nhập khẩu máy móc, công nghệ từ nước ngoài với hơn 80% dung lượng thị trường. Tại Việt Nam trong khi ngành dịch vụ môi trường như xử lý nước thải, rác thải góp phần xử lý được 30-35% nhu cầu bảo vệ môi trường, thì sản xuất hàng hóa môi trường phục vụ cho các hoạt động này chưa phát triển chỉ với 15 doanh nghiệp trên tổng số 1016 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường vào năm 2014 với các mặt hàng như hệ thống lọc khí, bụi, lò đốt chất thải nguy hại và thông thường, các thiết bị công nghệ phân loại rác, sản xuất phân compost, viên nhiên liệu.
Theo ông Phạm Nguyên Minh – Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại – Bộ Công Thương cho biết năm 2014 thương mại toàn cầu đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường ước tính đạt 10 nghìn tỷ USD vào năm 2020. Thị trường Việt Nam đã đạt 20 tỷ USD vào năm 2014, chiếm 10% GDP trong nước và 0,5% thị trường toàn cầu, đứng thứ 33 trên thế giới về thị trường hàng hóa và dịch vụ môi trường. Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường hiện nay được xem là công cụ hỗ trợ hiệu quả đối với thực hiện tăng trưởng xanh, góp phần hình thành một lĩnh vực kinh tế mới với các sản phẩm hàng hóa môi trường và các hoạt động cung cấp dịch vụ môi trường. Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường còn tạo động lực để thúc đẩy phát triển bền vững thông qua tăng cường khả năng tiếp cận các công nghệ máy móc, thiết bị và cung ứng dịch vụ về môi trường với giá rẻ góp phần giảm thiểu các chi phí cho hoạt động bảo vệ môi trường, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ giảm thiểu ô nhiễm trong sản xuất, chế biến và thải bỏ: gia tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lượng. Là một lĩnh vực kinh tế tiềm năng góp phần bảo vệ môi trường đồng thời mang lại hiệu quả kinh doanh lớn, tuy nhiên theo ông Minh nếu mở cửa thị trường mà các doanh nghiệp trong nước không biết nắm bắt thời cơ thì cơ hội này sẽ rơi vào tay các doanh nghiệp FDI vốn có thế mạnh về dịch vụ môi trường đến từ các nước phát triển.
Ngọc Thành - TTWTO
Từ khóa: Tự do hóa thương mại, đối với, hàng hóa, dịch vụ môi trường, Việt Nam
Các tin khác
- Lào phê chuẩn Hiệp định tạo thuận lợi thương mại - 30/09/2015
- Quy định thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định Thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN-Úc-Niu di lân - 29/09/2015
- TPP: Động lực phát triển các khu công nghiệp - 29/09/2015
- Nhật Bản có thể cho phép nhập hơn 100.000 tấn gạo từ Mỹ - 29/09/2015
- EU: Quy tắc cạnh tranh mới đối với ngành nông nghiệp - 29/09/2015






















