
Mối tương quan giữa thương mại và lao động là chủ đề đã thu hút được nhiều chú ý trong 12 tháng qua. Từ sự kiện Brexit và sự kiện bầu cử tổng thống Mỹ, một số nhà chính trị đã chuyển hướng sang khai thác ý tưởng rằng thương mại – đặt biệt là tự do hóa thương mại – đã tạo ra các tác động tiêu cực lên tiêu chuẩn lao động và điều kiện lao động.
Dĩ nhiên là, tự do hóa thương mại sẽ sản sinh ra người thắng kẻ thua. Một số các ngành công nghiệp trong nước đã phải hứng chịu hệ quả từ sự gia tăng cạnh tranh toàn cầu. Chưa kể, khi hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn dịch chuyển ngày càng nhiều giữa các nước, các tiêu chuẩn lao động thấp ở những quốc gia xuất khẩu có thể làm suy giảm các tiêu chuẩn lao động cao hơn ở các quốc gia nhập khẩu, rốt cục, dẫn đến một cuộc “chạy đua xuống đáy” trong tiêu chuẩn lao động.
May mắn thay, trên thực tế, các bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cho lý thuyết “chạy đua xuống đáy” vẫn còn rất mơ hồ. Vẫn không có chứng cứ rõ ràng nào cho thấy, chi phí lao động thấp sẽ giúp các nước đẩy mạnh xuất khẩu hay thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Nếu so với các yếu tố khác như năng suất lao động và sự ổn định chính trị, thi chi phí lao động chưa phải là yếu tố quan trọng trong các quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tuy nhiên, câu chuyện vẫn còn rất nóng. Công chúng vẫn tin tưởng rằng tự do hóa thương mại sẽ tác động xấu đến tiêu chuẩn lao động tại thị trường trong nước. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi các nhà chính trị phải tiếp tục xem xét lại vấn đề này. Và càng không ngạc nhiên khi các nhà đàm phán thương mại, những nhà phân tích chính sách và các học giả trong suốt 30 năm qua, luôn bận tâm về mối tương quan giữa các Hiệp định thương mại và vấn đề lao động.
Các Hiệp định thương mại có giúp cải thiện điều kiện lao động?
Trọng tâm ở đây là, liệu các hiệp định thương mại có thể và có nên được sử dụng để cải thiện tiêu chuẩn lao động trên phạm vi toàn cầu hay không. Phe ủng hộ ý tưởng này, hầu hết là các nền kinh tế giàu có và phát triển, cho rằng, mặc dù chưa có bằng chứng về việc thương mại tự do sẽ tạo ra “các cuộc chạy đua xuống đáy” trong tiêu chuẩn lao động, nhưng đi trước một bước vẫn tốt hơn, giúp cắt đứt mối lo ngại từ đầu. Vì vậy, nhóm nước này đề xuất nên nâng cao các tiêu chuẩn lao động trong các Hiệp định thương mại. Vì theo họ, các công ty thường có xu hướng di chuyển hoạt động sản xuất sang những nước có chi phí lao động thấp, điều này dẫn đến tình trạng mất việc làm ở trong nước và dẫn đến tình trạng hạ thấp tiêu chuẩn lao động để giữ những việc làm này.
Đồng thời, vài nước lập luận rằng, đó là trách nhiệm về mặt đạo đức khi sử dụng các hiệp định thương mại để cải thiện hoàn cảnh khó khăn của người lao động ở các nước đang phát triển. Nhưng lịch sử đã phủ nhận lập luận này khi chính các nước đang phát triển lại không cần đến sự can thiệp mang tính “đạo đức” này, vì tiêu chuẩn lao động thấp chính là một lợi thế cạnh tranh trong thương mại của họ. Đối với các nước đang phát triển, các ràng buộc về tiêu chuẩn lao động trong các hiệp định thương mại chẳng khác nào như một cơ chế bảo hộ, được thiết lập ra để xóa bỏ lợi thế cạnh tranh vốn đã ít ỏi của họ trên thị trường toàn cầu.
Chính vì vậy, những nỗ lực nhằm đưa tiêu chuẩn lao động trở thành một quy định của WTO đã luôn bị các nước từ chối. Tuy nhiên, các quy định ràng buộc về lao động đã được bổ sung vào các Hiệp định song phương và khu vực, được đề nghị bởi các nền kinh tế lớn như Mỹ và liên minh châu Âu (EU).
Khi đề xuất điều chỉnh các điều khoản lao động, lí do mà hai nền kinh tế này đưa ra là để bảo vệ các giá trị. Nước Mỹ cho rằng, bảo vệ quyền lợi người lao động trong một Hiệp định thương mại là giá trị cốt lõi, trong khi EU cho rằng các điều khoản như vậy là phù hợp với chương trình kế hoạch hướng đến các giá trị của khối này.
Thực thi
Các hiệp định thương mại có sự tham gia của EU và Mỹ đều theo một cách tiếp cận khá giống nhau. Cả hai đều dùng các thỏa thuận để yêu cầu các nước khác tuân thủ các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO). Điều đó giúp ngăn các nước – ví dụ như Colombia, Peru và Hàn Quốc – chây ì không chịu cải cách hay không thi hành các tiêu chuẩn lao động trong nước nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh về thương mại hoặc đầu tư.
Vậy thì, suy cho cùng, liệu những Hiệp định mà Mỹ và EU ký kết có giúp cải thiện quyền lợi và điều kiện lao động ở các đối tác còn lại hay không? Mỹ đã từng có một chút thành công trong việc khiến các đối tác thương mại của nước này thực hiện cải cách đáng kể luật lao động trong nước, vì đó là một điều kiện bắt buộc để các FTA đó có hiệu lực.
Hiệp định Mỹ - Colombia là một minh họa cho điều này. Mỹ đã quyết định không phê chuẩn thông qua hiệp định cho đến khi Colombia thực hiện một số cải cách, từ khâu sửa đổi luật cho đến khâu thi hành luật về vấn đề lao động, để bảo vệ thành viên liên đoàn lao động và chống lại các hoạt động chống phá liên đoàn.
Một FTA ký với nền kinh tế lớn nhất thế giới quả là một ấn tượng lớn - nhưng những con số ghi nhận được sau khi các FTA được phê duyệt thì thật kém xa. Cơ quan Thẩm định Trách nhiệm Chính phủ Mỹ (GAO) cho thấy việc thực thi các điều kiện về tiêu chuẩn lao động được quy định trong các FTA mà Mỹ tham gia là rất yếu kém. Một phần là do thiếu sự thực thi – chỉ có một Quyết định trọng tài được đưa ra vế vấn đề vi phạm quy định lao động trong một FTA với Mỹ. Một nguyên nhân nữa là việc thiếu tài chính và nguồn lực được phân bổ để giám sát việc thực thi.
Ít ra thì các Hiệp định của Mỹ còn cho phép nước này áp đặt các lệnh trừng phạt thương mại. Còn trong các FTA của Liên minh châu Âu, các điều khoản về lao động còn không được đưa ra khiếu nại trong các tranh chấp. Đồng nghĩa với việc EU không có cơ chế thực thi cứng rằng nếu như các đối tác thương mại không tuân thủ luật.
Điều đó có thể giải thích tại sao tác động của những FTA của EU lên tiêu chuẩn lao động được cho là còn hạn chế hơn Mỹ. EU phụ thuộc nhiều vào việc giám sát và sự phối hợp giữa các nước để đảm bảo các đối tác thương mại tuân thủ các điều khoản lao động. Tuy nhiên, cơ chế giám sát và phối hợp của EU cũng không hiệu quả, dẫn đến tác động của FTA lên tiêu chuẩn lao động vẫn còn rất thấp.
EU gần đây đã xúc tiến các đề xuất nhằm cải thiện hiệu quả, nhưng kết quả đạt được cho đến lúc này chỉ cho thấy khoảng cách giữa lời nói và hành động là rất xa nhau. Cả EU và Mỹ đều mong muốn dùng các FTA làm công cụ để nâng cao các tiêu chuẩn lao động và bảo vệ người lao động. Nhưng cả hai nền kinh tế này đã thất bại trong việc triển khai mong muốn đó.
Nguồn: The Conversation – TQ
Từ khóa: thỏa thuận thương mại, điều kiện, lao động, khoảng cách, lời nói, hành động
Các tin khác
- “Vượt sóng” cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 – Bài 3 (hết) - 02/10/2017
- Tiềm năng và thách thức trong việc phát triển mô hình “kinh tế chia sẻ” - 02/10/2017
- Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần làm gì để tận dụng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? - 02/10/2017
- Xuất khẩu hồ tiêu khó trở lại thời “hoàng kim”? - 02/10/2017
- Xuất khẩu hồ tiêu: Tăng về sản lượng nhưng giảm về giá trị - 02/10/2017






















