Liên kết vùng là nền tảng cho việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng phát thải thấp và kinh tế tuần hoàn, dựa trên các giải pháp công nghệ hiện đại, dữ liệu khí hậu chất lượng cao và cơ chế phối hợp đa ngành – đa cấp. Việc phát triển nông nghiệp xanh vì vậy không chỉ là xu hướng, mà còn là điều kiện để Việt Nam đáp ứng các cam kết quốc tế về khí hậu và phát triển bền vững.

Định hướng phát triển nông nghiệp xanh
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, nông nghiệp chiếm 11,5% GDP, nhưng lại là bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế với hơn 60% dân số sống ở nông thôn. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường, lĩnh vực nông nghiệp vẫn duy trì vai trò trụ cột, bảo đảm an ninh lương thực và tạo thặng dư thương mại lớn. Theo đó, tính đến hết tháng 10 năm nay, xuất khẩu nông sản đạt mức thặng dư 17,59 tỷ USD, tăng 16,4% và dự kiến cả năm có thể cán mốc 70 tỷ USD.
“Nghị quyết Trung ương 68 và các định hướng phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ đang mở ra cơ hội lớn để Việt Nam tạo ra các nhóm sản phẩm đặc trưng, mang tính bản địa nhưng có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, cùng lợi thế của 7 vùng kinh tế sinh thái sẽ giúp hình thành những chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.
Nhấn mạnh tại Hội thảo “Liên kết vùng - Thúc đẩy chuỗi giá trị xanh trong nông nghiệp Việt Nam”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng, thúc đẩy chuỗi giá trị xanh không chỉ là nhiệm vụ của ngành nông nghiệp, mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người dân - tổ chức quốc tế, chúng ta mới có thể thay đổi toàn diện hệ sinh thái sản xuất và tiêu thụ nông nghiệp, hướng đến một ngành nông nghiệp hiện đại, xanh và cạnh tranh toàn cầu.
Tuy nhiên, lãnh đạo ngành Nông nghiệp và Môi trường cũng cảnh báo tác động nặng nề của biến đổi khí hậu với thiệt hại thiên tai ước tính gần 70.000 tỷ đồng trong năm nay. Thứ trưởng nhấn mạnh, các công tác như sản xuất - dự báo - phòng chống - phục hồi phải đồng bộ, gắn với mục tiêu giảm phát thải, thực hiện cam kết quốc tế và chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
Để đạt mục tiêu đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục tập trung thúc đẩy liên kết vùng, phát triển các mô hình hợp tác tuần hoàn, tăng cường vai trò của doanh nghiệp, nhà khoa học và chính quyền địa phương. Cùng với đó là các giải pháp về chuyển giao công nghệ, chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sẽ được đẩy mạnh nhằm xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng vùng miền.
Xây dựng đội ngũ nông dân chuyên nghiệp
Để đẩy mạnh các chuỗi sản xuất xanh, TS. Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, cho rằng, phải đẩy mạnh xây dựng thế hệ nông dân chuyên nghiệp, những người biết nắm vững quy trình sản xuất xanh, đáp ứng yêu cầu truy xuất – chứng nhận quốc tế, từ đó tổ chức sản xuất thông qua HTX nòng cốt – tổ nhóm nông dân chuyên nghiệp; đồng hành cùng doanh nghiệp để mở rộng thị trường và tăng giá trị gia tăng; tăng thu nhập, giảm rủi ro, nâng cao chất lượng sống nông thôn.
Thực tế cho thấy, giá trị xuất khẩu nông sản khoảng 25 năm qua tăng lên rõ rệt. Thị trường xuất khẩu cũng đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn với sản phẩm nông sản như: Kiểm dịch an toàn thực phẩm, ER GAP, GFSI, Viet GAP, Kiểm nghiệm MRL, IUU, số hóa nguồn gốc.
Nhưng trên thực tế hiện nay, nông dân Việt Nam có quy mô nhỏ lẻ, xu hướng nông dân già hóa. Trình độ học vấn nông dân có chứng chỉ ít, chỉ khoảng 3-4% nông dân có chứng chỉ. Qua đó cho thấy trình độ, ứng dụng khoa học công nghệ ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động, khả năng ứng phó biến đổi khí hậu kém. Trong quá trình xây dựng liên kết chuỗi giá trị, liên kết hợp tác xã tăng nhưng hợp đồng nông sản phát triển không nhiều, lỏng lẻo.
Dẫn một số mô hình nông nghiệp tiên tiến trên thế giới, ông Thắng kiến nghị xây dựng, đào tạo đội ngũ nông dân chuyên nghiệp. Nông dân chuyên nghiệp là thế hệ đội ngũ lao động có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp; nông dân phải được đào tạo, cấp chứng chỉ, chuyên môn, các chương trình riêng của hiệp hội; nông dân tuân thủ quy định pháp luật, tính chuyên nghiệp trong chấp hành các cam kết; nông dân tổ chức lại tham gia vào các hội, hiệp hội; sản xuất hàng hóa có gắn kết, liên kết, họ hỗ trợ lẫn nhau trong tiếp cận thị trường.
Cũng theo ông Thắng, khi xây dựng nông dân chuyên nghiệp cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển kèm theo, như: Chính sách hỗ trợ vay vốn, đào tạo, hỗ trợ đầu tư, nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ vào thực tiễn.
Phát triển chuỗi giá trị xanh trong nông nghiệp, công nghệ xử lý sản phẩm sau thu hoạch cũng đóng vai trò quan trọng. PGS. TS Phạm Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch, cho biết hiện nay có khá nhiều công nghệ xử lý và được chia làm nhiều nhóm. Có những công nghệ tiên tiến như lạnh đông siêu tốc bằng chất lỏng, tương đương công nghệ Nhật Bản, đã đưa vào ứng dụng thủy sản, tiến tới cấp đông súc sản, rút ngắn thời gian cấp đông.
Song, dư địa phát triển công nghệ xử lý sản phẩm sau thu hoạch còn khá lớn. Do đó, để thúc đẩy công nghệ xử lý sản phẩm nông sản sau thu hoạch, ông Tuấn cũng có đề xuất: quy hoạch vùng sản xuất theo lợi thế vùng, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với đặc sản địa phương, xác định rõ tiêu chuẩn chất lượng, sản lượng, mùa vụ; liên kết vùng sản xuất - chế biến - tiêu thụ theo chuỗi giá trị, hạn chế trùng lặp sản phẩm giữa các tỉnh gây cạnh tranh nội vùng; đồng bộ cơ sở hạ tầng gắn với chuỗi logistics xanh, packinghou...
Tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tàu, hình thành các HTX kiểu mới làm trung gian giữa nông dân và doanh nghiệp đảm nhiệm dịch vụ đầu vào, kiểm soát chất lượng, thu gom; khuyến khích doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị (chế biến, xuất khẩu) liên kết bao tiêu, chuyển giao kỹ thuật, áp dụng hợp đồng thông minh.
Ông Tuấn cũng kiến nghị, áp dụng tiêu chuẩn xanh và công nghệ cao, chuyển mạnh sang các chuẩn nông nghiệp bền vững: VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, trong nông nghiệp; tăng tỷ lệ cơ giới hóa, số hóa: hệ thống tưới tự động, cảm biến môi trường, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc QR/Blockchain; giảm phát thải: phân bón sinh học, chế phẩm vi sinh, nông nghiệp tuần hoàn (tái sử dụng phụ phẩm); xây dựng phòng kiểm nghiệm chuẩn quốc tế, trung tâm chứng nhận xuất khẩu tại vùng sản xuất; xây dựng thương hiệu vùng và mở rộng thị trường; chuẩn hóa chất lượng theo từng vùng chỉ dẫn địa lý; tạo bộ nhận diện thương hiệu vùng; phát triển các sản phẩm tinh chế, chế biến sâu (sấy lạnh, đông khô, chiết xuất tinh dầu, sản phẩm giá trị cao ...); hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ quốc tế, sàn thương mại điện tử xuyên biên giới; cập nhật thông tin thị trường lớn (EU, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc) về kiểm dịch, mã số vùng trồng, dư lượng thuốc BVTV, bao bì xanh...
Tăng cường vai trò Nhà nước trong điều phối và dự báo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các địa phương cần có cơ chế điều phối vùng sản xuất – tiêu thụ: Quy hoạch mùa vụ, cảnh báo cung cầu, điều tiết xuất khẩu; xây dựng hệ thống dữ liệu nông nghiệp quốc gia kết nối từ nông dân, hợp tác xã đến doanh nghiệp và thị trường; hoàn thiện chính sách tín dụng xanh, hỗ trợ đổi mới công nghệ, bảo hiểm nông nghiệp, ông Tuấn kiến nghị.
Vốn “tín dụng xanh” – động lực trong phát triển chuỗi giá trị
Nguồn vốn là động lực quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị xanh trong nông nghiệp. Song, hoạt động tín dụng trong lĩnh vực này đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Ông Vương Văn Quý, Phó trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank, cho biết, khung pháp lý về tín dụng xanh hiện vẫn chưa đồng bộ và thống nhất, dẫn đến gặp một số khó khăn trong quá trình triển khai. Việt Nam chưa có hệ thống ngành kinh tế xanh quốc gia và danh mục dự án xanh được chuẩn hóa và công khai trên cổng thông tin điện tử. Do đó các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung và Agribank nói riêng gặp khó khăn trong công tác thu thập dữ liệu, thẩm định hồ sơ, kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án theo chuẩn ESG.
Nhìn từ góc độ khách hàng là doanh nghiệp, nông dân và hợp tác xã: việc tiếp cận tín dụng xanh gặp nhiều rào cản do năng lực đáp ứng yêu cầu "xanh" còn hạn chế. Phần lớn khách hàng chưa có đầy đủ hồ sơ môi trường, chưa sở hữu các chứng nhận hữu cơ hoặc chứng nhận tuần hoàn theo tiêu chuẩn quốc tế. Năng lực lập báo cáo ESG còn yếu, quy mô sản xuất thường nhỏ lẻ và thiếu tài sản bảo đảm, khiến họ khó đáp ứng các tiêu chí tín dụng của ngân hàng. Mặt khác, các dự án xanh thường yêu cầu vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi dài, trong khi chi phí chuyển đổi xanh và chi phí chứng nhận quốc tế tương đối cao, làm giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và hợp tác xã.
Thời gian hoàn vốn cho các dự án xanh thường dài, rủi ro cao trong khi lãi suất áp dụng cho các chương trình hỗ trợ tín dụng xanh cho khách hàng thường thấp hơn mức lãi suất cho vay thông thường. Điều này khiến Ngân hàng gặp khó khăn trong công tác cân đối nguồn vốn giữa cho vay và huy động...
Do đó, để "gỡ vướng" tín dụng nông nghiệp xanh, ông Quý cho rằng, nhà nước cần sớm hoàn thiện một hệ thống quy định thống nhất về tín dụng xanh. Trong đó, trọng tâm ban hành hệ thống ngành kinh tế xanh quốc gia, có cơ chế/công cụ hỗ trợ cho các TCTD tiếp cận, thu thập các thông tin về việc tuân thủ bảo vệ môi trường của khách hàng.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh rủi ro, cũng như tiêu chuẩn hóa bộ tiêu chí "xác nhận xanh" trong các hồ sơ pháp lý như đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường... nhằm giảm bớt sự chồng chéo giữa các cơ quan cấp phép và cơ quan tài chính.
Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân, những chủ thể trực tiếp triển khai mô hình xanh vẫn còn nhiều hạn chế trong đáp ứng tiêu chí về môi trường, xã hội, tuần hoàn. Vì vậy, cần đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực lập hồ sơ môi trường và báo cáo ESG, hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thiện các tiêu chuẩn hữu cơ, tiêu chuẩn tuần hoàn và các chứng nhận quốc tế.
Nhà nước và các tổ chức quốc tế cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ chi phí chuyển đổi xanh, chi phí chứng nhận, cũng như tư vấn kỹ thuật để doanh nghiệp có thể tiếp cận tín dụng xanh thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết với các đơn vị đầu chuỗi, nhằm nâng cao năng lực quản trị, giảm rủi ro kinh doanh và tăng tính bền vững trong sản xuất...
Liên kết vùng là nền tảng
Theo ông Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, sau 6 năm triển khai Nghị định 98, cả nước đã hình thành hơn 3.500 mô hình liên kết chuỗi giá trị, thu hút 300.000 hộ nông dân tham gia thông qua gần 2.000 hợp tác xã và tổ hợp tác. Khoảng 70% mô hình có sự tham gia của hợp tác xã trong vai trò tổ chức vùng nguyên liệu, ký kết hợp đồng và kiểm soát chất lượng. Tổng vốn huy động đạt trên 20.000 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp đóng góp 50-60%.
“Những con số trên cho thấy xu hướng chia sẻ rủi ro ngày càng rõ trong sản xuất nông nghiệp hiện đại. Tuy vậy, liên kết chuỗi vẫn thiếu bền vững, chưa khép kín từ sản xuất - chế biến - thị trường; thủ tục hỗ trợ còn phức tạp và hiệu quả giữa các địa phương chưa đồng đều… Cùng lúc, ngành nông nghiệp phải đối mặt với biến đổi khí hậu, yêu cầu giảm phát thải, các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, cũng như sự thay đổi quản lý khi chính quyền địa phương chuyển sang mô hình hai cấp từ 1/7/2025”.
PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, cho rằng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, lan truyền theo không gian vùng và tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, liên kết vùng trở thành yêu cầu tất yếu và là trụ cột của phát triển nông nghiệp xanh. Chỉ khi các địa phương phối hợp trên nền tảng dữ liệu chung, thông tin khí hậu thống nhất và quy hoạch liên thông theo lưu vực – sinh thái, nông nghiệp mới có thể nâng cao năng lực chống chịu, giảm thiểu tổn thất do thiên tai và duy trì sinh kế bền vững cho người dân.
"Liên kết vùng không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực đất – nước – khí hậu, mà còn tạo điều kiện hình thành vùng nguyên liệu lớn, củng cố chuỗi cung ứng xanh và tăng cường khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong thị trường quốc tế. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để triển khai quản trị rủi ro khí hậu chủ động, tích hợp bản đồ hạn – mặn, ngập úng và bản đồ rủi ro khí hậu vào các quyết định phát triển kinh tế – xã hội, phù hợp với yêu cầu duy trì an ninh lương thực và an toàn môi trường trong dài hạn.
Quan trọng hơn, liên kết vùng là nền tảng cho việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng phát thải thấp và kinh tế tuần hoàn, dựa trên các giải pháp công nghệ hiện đại, dữ liệu khí hậu chất lượng cao và cơ chế phối hợp đa ngành – đa cấp. Việc phát triển nông nghiệp xanh vì vậy không chỉ là xu hướng, mà còn là điều kiện để Việt Nam đáp ứng các cam kết quốc tế về khí hậu và phát triển bền vững", PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà nhấn mạnh.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường, đặc biệt là phát triển nền nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, theo hướng bền vững, là mục tiêu chiến lược của ngành.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác định rõ tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển các chuỗi giá trị xanh, theo đó thúc đẩy các mô hình sản xuất an toàn, thân thiện với môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ đất đai, nguồn nước, đa dạng sinh học, đồng thời tăng cường liên kết vùng để thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tạo ra sản phẩm có giá trị cao, nâng cao thương hiệu và vị thế của nông sản Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước.
Phát triển các chuỗi giá trị xanh là bước đi tất yếu, nhằm xây dựng một nền nông nghiệp ít phát thải, ít gây tổn hại đến môi trường, đồng thời tối ưu hóa lợi ích kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân./.
Nguồn: Kinh tế Nông thôn
Từ khóa: chuỗi giá trị, nông nghiệp xanh, nông dân
Các tin khác
- Sức ép bủa vây doanh nghiệp nhỏ tại Mỹ - 20/11/2025
- Chuyên gia, nhà đầu tư nói gì về Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM? - 20/11/2025
- Việt Nam - EU hướng tới quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện - 20/11/2025
- Tiêu chuẩn giúp nâng cao năng suất và chất lượng, tạo đà cho doanh nghiệp thủy sản vươn xa - 19/11/2025
- “Chuẩn hóa” để doanh nghiệp nhỏ và vừa vươn lên - 19/11/2025






















