JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếThay đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu: Coi trọng giá trị thay vì số lượng

Thay đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu: Coi trọng giá trị thay vì số lượng

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn bất ổn với lạm phát kéo dài, xung đột địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng, Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng xuất nhập khẩu tích cực. Song, đằng sau những con số ấn tượng, vẫn còn nhiều hạn chế khiến đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng kinh tế chưa đạt kỳ vọng.

Việt Nam vẫn là nước nhập siêu lớn

Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, trong 8 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 305,96 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 76,69 tỷ USD, tăng 3,2%, chiếm 25,1% tổng kim ngạch; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt tới 229,27 tỷ USD, tăng 19,3%, chiếm 74,9%.

1-ts-le-duy-binh-1809

Về thị trường, Mỹ tiếp tục là đối tác xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 99,1 tỷ USD (chiếm hơn 32%). EU và Trung Quốc lần lượt giữ vị trí thứ hai và thứ ba. Đặc biệt, Việt Nam xuất siêu lớn sang Mỹ (87 tỷ USD) và EU (25,6 tỷ USD), góp phần cân bằng cán cân thương mại.

Ngành nông nghiệp cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực: thủy sản đạt 7,2 tỷ USD (tăng 13,5%), cà phê 6,5 tỷ USD (tăng tới 61,1%), rau quả 4,8 tỷ USD (tăng 2%), hạt điều 3,3 tỷ USD (tăng 17,9%).

Tuy nhiên, bình luận về kết quả này, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economyca Việt Nam, chuyên gia kinh tế khẳng định Việt Nam vẫn nhập siêu lớn từ Trung Quốc (75,9 tỷ USD) và Hàn Quốc (20,1 tỷ USD), phản ánh sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài. Đây là điểm yếu chiến lược, đặt ra yêu cầu cấp thiết phát triển công nghiệp hỗ trợ để giảm rủi ro.

"Mức xuất siêu cũng đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước, do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Nhóm hàng máy móc, thiết bị và nguyên liệu sản xuất tăng mạnh – tín hiệu tích cực cho thấy sản xuất trong nước phục hồi, nhưng đồng thời tạo áp lực kiểm soát cán cân thương mại", ông Bình nói.

Một thách thức khác, theo quan điểm của ông Bình là các hàng rào kỹ thuật ngày càng khắt khe từ EU và Mỹ. Yêu cầu về môi trường, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc buộc doanh nghiệp phải đầu tư lớn, trong khi không ít lô hàng vẫn bị trả về, gây thiệt hại và ảnh hưởng uy tín.

"Biến động tỷ giá, chi phí logistics cao cũng tiếp tục bào mòn lợi nhuận, đặc biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ", ông Bình nói.

Xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào FDI

Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2025, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, xuất nhập khẩu từ lâu đã là động lực quan trọng cho tăng trưởng. Nếu năm 2019, xuất khẩu đóng góp 14% GDP, thì đến năm 2024 con số này đã lên 19%.

Xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào FDI.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2024 đạt 786,1 tỷ USD, xuất siêu 23,8 tỷ USD; riêng xuất khẩu đạt 404,9 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có độ mở thương mại hàng đầu thế giới.

Nhưng nhìn sâu vào cấu trúc xuất khẩu, TS. Bình cho rằng hạn chế lớn là tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng kim ngạch, trong khi giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa còn thấp.

Thống kê giai đoạn 2015–2024 cho thấy sự biến động: năm 2017 tăng 22%, 2021 tăng 19,3%, 2022 tăng 18,5% nhưng đến 2023 lại giảm -4,6%. Thực tế này cho thấy Việt Nam không thể chỉ dựa vào mở rộng số lượng, mà cần đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào chất lượng.

Một ví dụ rõ nét là toàn bộ giá trị xuất khẩu điện thoại và linh kiện thuộc về khối FDI, trong khi 89% linh kiện đầu vào vẫn nhập khẩu. Ngành dệt may chỉ đạt nội địa hóa 45–50%, nghĩa là hơn một nửa nguyên liệu vẫn phụ thuộc Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan…

Trong giai đoạn 2018–2024, doanh nghiệp FDI luôn chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2024, khu vực này đạt gần 290,9 tỷ USD (71,7%). Vai trò của doanh nghiệp nội địa vẫn rất khiêm tốn.

“Xuất khẩu của Việt Nam hiện phụ thuộc quá lớn vào FDI. Điều này duy trì tăng trưởng, mang lại thặng dư thương mại, nhưng hạn chế tính bền vững, khả năng lan tỏa công nghệ và sự tham gia của doanh nghiệp Việt vào chuỗi giá trị toàn cầu”, TS. Bình nhấn mạnh.

Cần một mô hình tăng trưởng mới

Theo TS. Bình, muốn xuất khẩu trở thành động lực dài hạn và thực chất, Việt Nam cần đổi mới mô hình tăng trưởng theo bốn hướng trọng tâm:

Thứ nhất, tăng tỷ lệ nội địa hóa. Phát triển công nghiệp hỗ trợ để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn chuỗi cung ứng, giữ lại nhiều giá trị sản xuất trong nền kinh tế.

Thứ hai, xây dựng thương hiệu. Không chỉ gia công hay sản xuất thuê, doanh nghiệp Việt cần sáng tạo, sở hữu và làm chủ thương hiệu để nâng cao giá trị cạnh tranh.

Thứ ba, đầu tư mạnh vào công nghệ và tiêu chuẩn. Đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc từ EU, Mỹ, Nhật… Đây là yếu tố sống còn trong bối cảnh xu hướng phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn.

Thứ tư, giảm nhập siêu dịch vụ. Đặc biệt trong logistics, vận tải, bảo hiểm hàng hóa – nơi Việt Nam vẫn chi hàng chục tỷ USD ra nước ngoài mỗi năm. Nếu có doanh nghiệp dịch vụ đủ mạnh, Việt Nam sẽ giữ lại nguồn ngoại tệ lớn và tăng động lực tăng trưởng.

TS. Bình nhấn mạnh, trong giai đoạn tới, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu. Sự tiên phong không chỉ là mở rộng thị trường mà còn ở tư duy mới:

“Cần coi trọng giá trị thay vì số lượng, coi trọng thương hiệu thay vì chỉ dựa vào lợi thế chi phí thấp. Chỉ khi đó, xuất khẩu mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, nâng cao vị thế quốc gia và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng.”

Nguồn: Vietnam Finance

Từ khóa: xuất khẩu, công nghệ, quốc tế

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008778115
Go to top