Đây được xem là một ví dụ đơn giản có thể giúp nhìn nhận ra mức độ thiệt hại kinh tế do chiến tranh gây ra. Theo ước tính, tổn thất của nền kinh tế thế giới là trên 1.6 nghìn tỷ đô la.
Sau xâm lược, với đại dịch covid 19 vẫn hiện tại hoành hành, kinh tế toàn cầu suy thoái, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, vẫn đang tiếp diễn từ một nước nhỏ bé như Bangladesh đến Hoa kỳ hùng mạnh.
Một ví dụ đơn giản có thể giúp nhìn nhận ra mức thiệt hại kinh tế do chiến tranh: Theo báo cáo của viện nghiên cứu kinh tế tại Đức. Thiệt hại do chiến tranh tại Ukraine là “trên 1.6 nghìn tỷ đô la” vào năm ngoái. Báo cáo còn dự đoán trong năm 2023. Mức thiệt hại sản lượng toàn cầu có thể đạt đến thêm 1 nghìn tỷ đô la hoặc hơn thế nữa.
Thương mại năng lượng của bên kia Đại tây dương ngày càng tăng cao
Con át chủ bài quan trọng nhất của Vladimir Putin khi bắt đầu chiến tranh đó chính là sự thờ ơ của châu Âu (đặc biệt là Đức) đối với khí đốt tự nhiên của Nga. Vào lúc đang cao điểm Nga đã cung cấp 56.1% của tổng lượng khí đốt tự nhiên cho liên minh châu Âu (EU) vào vào tháng 9 năm 2019. Thậm chí vào tháng 2 năm 2020, khi Nga bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược, lục địa Á-Âu đã cung cấp 35.7% của tổng lượng khí đốt tự nhiên cho EU.
Kể từ khi bắt đầu chiến tranh, EU dường như đang đa dạng hóa nguồn khí đốt tự nhiên của mình, mặc dù ở mức giá cao hơn, từ các nguồn thay thế như Mỹ, Qatar, Nigeria (khí tự nhiên hoá lỏng - LNG), Na Uy, Algeria, v.v. Do đó, đến tháng 11 năm 2022, chỉ trong khoảng thời gian 10 tháng, lượng khí đốt tự nhiên Châu Âu nhập khẩu từ Nga giảm xuống chỉ còn 12,9% theo tổng cung.
Cụ thể hơn, EU nhập khẩu LNG từ Hoa kỳ, dù chi phí cao hơn tầm 30-40%, tăng từ 2,53 tỷ mét khối (bcm) vào tháng 12 năm 2021 lên 5,78 bcm vào tháng 4 năm 2022, tại đỉnh điểm cuộc chiến tranh của Ukraine. Mặc dù nhập khẩu đã giảm xuống 4.2 bcm vào cuối tháng 11, do một phần đợt này mùa đông tương đối ấm áp ở châu Âu, tình hình này dự kiến sẽ xảy ra vào những ngày tới.
Gia công sản xuất tại quốc gia lân cận đang càng ngày tăng cao
Nhờ lượng nhân công giá rẻ, hầu hết các nước phát triển ở phương tây đã bắt đầu thuê lao động ngoài để gia công sản xuất từ các nước châu Á trong hơn ba thập kỉ qua. Do sự gia tăng toàn cầu hóa và mức độ các nhà máy gia công sản xuất bên ngoài tăng theo, điều này có nghĩa là sẽ xuất hiện cú sốc nguồn cung, như trong thời kì đại dịch covid -19 hay là cuộc chiến tranh của Nga và Ukraine, và sẽ còn gây thiệt hại thêm nữa.
Tuy nhiên, theo báo cáo các công ty châu Âu đều đang tìm kiếm giải pháp thay thế lực lượng gia công sản xuất bên ngoài gần với công ty mẹ, và Romania, Turkei, Ma-rốc là những giải pháp thay thế. Điều này có thể là mối quan ngại cho các nước đang phát triển và kém phát triển (Bangladesh, Campuchia, Việt Nam, v.v), những nước này phụ thuộc vào cường độ lao động của các ngành nghề để thúc đẩy kinh tế của mình.
Điều này có thể làm gia tăng tầm quan trọng của khối thương mại khu vực như RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực) cũng như các nước sẽ giao lưu và trao đổi thương mại với những đối tác có thể tin tưởng. Chúng ta có thể thấy được sự hình thành của các khối thương mại khu vực mới và xu hướng gia tăng phi toàn cầu hoá sẽ ảnh hưởng đến Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Chế độ bảo hộ mậu dịch và những lo ngại về an ninh lương thực
Chiến tranh Nga-Ukraine là một trở ngại lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu. Nga và Ukraine cộng lại từng cung cấp hơn 30% lượng lúa mì, 32% lúa mạch, 17% ngô và hơn 50% dầu, hạt và thức ăn của thế giới. Với nhiều nền kinh tế đang phát triển hoặc dễ bị tổn thương, đặc biệt là những nền kinh tế ở Trung Đông và Châu Phi, đã từng dựa vào nguồn cung của các nước này để đảm bảo an ninh lương thực. Phân bón cho sản xuất lương thực cũng chủ yếu do Nga cung cấp.

Các vấn về đề tính sẵn có của cây trồng cũng dẫn đến chi phí cao hơn và cạnh tranh nhiều hơn đối với các nguồn thay thế khác. Các nước đang phát triển có thể gặp khó khăn trong việc cạnh tranh nguồn cung với các nước giàu có trong một thị trường đầy thử thách như thế này. Ví dụ, ngay sau chiến tranh xảy ra, Indonesia đã cấm xuất khẩu dầu cọ để ngăn chặn tình trạng tăng giá và thiếu hụt dầu ăn trong nước. Do đó, giá dầu ăn tăng cao trên toàn thế giới.
Phân bón, bao gồm Nitơ và Kali được xuất khẩu rộng rãi từ Nga. Để thu hoạch, nhiều nền kinh tế mới nổi phụ thuộc vào nguồn cung cấp phân bón này. Việc sản xuất thực phẩm dành cho tiêu thụ trong nước và quốc tế có thể bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn thị trường. Ví dụ: Benin, Ai Cập và Sudan đã mua toàn bộ lúa mì từ Nga và Ukraine. Họ không có nhiều lựa chọn để tìm nguồn cung thay thế.
Một sự thay đổi từ đồng đô la
Để trừng phạt cuộc chiến tranh Nga - Ukraine, Mỹ quyết định sử dụng quyền kiểm soát hệ thống tài chính toàn cầu và phong toả các tài sản bằng đồng đô la của Nga để vô hiệu hoá vũ khí tài chính trong cuộc chiến tranh và trừng phạt các nhà tài phiệt Nga thân cận với Putin. Tuy nhiên, Nga đã dự đoán điều này và bắt đầu đa dạng hoá rổ tiền tệ của mình bằng đồng Yên, đồng Euro, bảng Anh và các loại tiền tệ toàn cầu khác.

Trên thực tế, từ khi bắt đầu chiến tranh, cuộc trò chuyện liên quan đến việc phụ thuộc quá nhiều vào đồng đô la Mỹ như là một đồng tiền dự trữ đã trở thành tâm điểm và nhiều nền kinh tế đang xem xét giao dịch bằng đồng tiền của họ và đa dạng hoá nguồn dự trữ tiền tệ.
Các quốc gia đang phát triển là người thua cuộc lớn nhất
Để giải quyết tình trạng lạm phát do chi phí đẩy, cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED)quyết định tăng lãi suất, giảm cung và tăng cầu đối với đồng đô la Mỹ. Do đó, đồng đô la lên giá và như mọi khi, lấn át các quốc gia đang phát triển.
Một mặt, đồng đô la mạnh làm tăng chi phí nhập khẩu và gây áp lực lên cán cân thanh toán của nhiều quốc gia đang phát triển. Ngay cả Nhật Bản là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới, cũng đã trãi qua sự sụt giảm 54 tỷ đô la dự trữ ngoại hối vì các khoản thanh toán nhập khẩu cao. Hơn thế nữa, hầu hết các nước đang phát triển phải giảm giá tiền tệ của họ nhằm duy trì tính cạnh tranh trong thị trường quốc tế. Tuy nhiên, vì gần như tất cả các khoản nợ của họ đều được tính bằng đồng đô la, nên số tiền phải trả bằng đồng nội tệ cũng tăng.
Kết quả cho thấy, các nước kém phát triển nhất như Sri Lanka và Pakistan đã sụp đổ (mặt dù trước đó họ đã gặp các vấn đề về cấu trúc) trong khi các nền kinh tế đầy triển vọng như Bangladesh phải tìm kiếm các khoản vay từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để giảm bớt áp lực lên Cán cân Thanh toán của họ.
Khi Nga tuyên bố tiếp tục cuộc xâm chiếm ít nhất một năm nữa, có khả năng, chúng ta sẽ chứng kiến một thế giới phân cực hơn, bảo hộ hơn và như mọi khi, các nền kinh tế đang phát triển và kém phát triển nhất sẽ phải chịu thiệt nhất.
Nguồn: Bussiness Standard
Từ khóa: khủng hoảng, chiến tranh, thế giới phân cực, chi phí đẩy, IMF
Các tin khác
- Tăng năng suất lao động: Chính sách tốt thực hiện chậm vẫn chỉ là chính sách - 03/03/2023
- Tận dụng hiệu quả các FTA: “Chìa khóa” cho xuất khẩu hàng hóa năm 2023 - 03/03/2023
- "Lộ diện" yếu tố sẽ quyết định trật tự thế giới mới - 03/03/2023
- Chiến sự Nga - Ukraine: Thế khó liên minh Nga - Trung - 03/03/2023
- Kinh tế hạ tầng dữ liệu hướng đến số hoá truy xuất nguồn gốc nông sản - 03/03/2023






















