
Tóm lược
Trong suốt thập kỷ qua, các cam kết thương mại đa phương trong khuôn khổ của WTO đã bị suy yếu do phải đối mặt với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và những áp lực ngày càng gia tăng từ các Thoả thuận Ưu đãi Thương mại (PTA) đại khu vực (mega-regional) và từ các Hiệp định Thương mại Khu vực (RTA) có quy mô nhỏ hơn. Mặc dù các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách thương mại đều đồng thuận rằng các PTA và RTA hiện tại chưa thực sự tối ưu khi so sánh với chủ nghĩa đa biên nhưng họ vẫn tiếp tục phát triển chúng. Các lý giải cho việc áp dụng chiến lược về PTA và RTA bắt nguồn từ mục tiêu lợi ích về chính trị được đặt lên trên lợi ích về kinh tế. Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương (TTIP) là một ví dụ điển hình cho chiến lược trên. Chúng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chính trị và kinh tế. Dù bằng cách nào đi nữa, sự thành công hay thất bại của một trong hai hiệp định trên đều sẽ tạo ra bóng chính sách bao trùm lên sự phát triển của các thể chế thương mại toàn cầu trong thập kỷ tới. Sự thành bại này thực sự có ý nghĩa đối với các quốc gia ở khu vực châu Á Thái Bình Dương và châu Âu. Có nhiều điều châu Âu có thể học được từ kinh nghiệm của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Phân tích
Giới thiệu
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết nhưng vẫn chưa được phê chuẩn; Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương (TTIP) vẫn còn đang trong quá trình đàm phán. Những hiệp định thương mại trước đó đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo phê chuẩn pháp lý ở Mỹ và ở một số quốc gia thành viên khác. Quá trình đó đã gặp phải sự chống đối rộng rãi và mạnh mẽ ở các quốc gia chủ chốt của châu Âu. Sự phản đối đến từ cả trong hệ thống chính trị của quốc gia và trong xã hội dân sự rộng lớn hơn. Sự thành công của cả hai hiệp định này sẽ duy trì được sự cân bằng. Bài viết ngắn này nhằm tìm hiểu các lập luận ủng hộ và phản đối của cả hai hiệp định, và phân tích các động cơ chính trị trong việc tham gia hai hiệp định này. Được viết trước thời điểm quyết định liệu hiệp định có được phê chuẩn hay không, bài viết được kết lại với ba điểm chính: (1) châu Âu có nhiều thứ có thể học hỏi từ những kinh nghiệm của TPP; (2) giả sử rằng bà Clinton chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang diễn ra, TPP sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn so với TTIP ở thời điểm hiện tại; và (3) cơ hội thành công của TTIP đang bị suy giảm mạnh do sự rút lui của Anh khỏi EU.
So sánh TPP và TTIP
Hiệp định TPP là một thỏa thuận giữa 12 quốc gia đều là thành viên của APEC nhưng có mức độ phát triển kinh tế rất khác nhau bao gồm: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam. Hiệp định TTIP là một cuộc đàm phán song phương. Chúng tuy có nhiều điểm chung nhưng cũng nhiều điểm khác biệt. Mặc dù chúng đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau, nhưng trên danh nghĩa mục tiêu chính của chúng là gần như giống hệt nhau và rất tham vọng là: liên kết sâu các thị trường xuyên Thái Bình Dương, và các thị trường xuyên Đại Tây Dương.
Các cuộc đàm phán TTP đã kết thúc vào đầu tháng 10 năm 2015 với các văn bản pháp lý được ký kết vào ngày 04 tháng 02 năm 2016. Để 'có hiệu lực', tất cả các thành viên phải phê chuẩn nó. Sau hai năm nếu sự phê chuẩn không được thực hiện bởi tất cả các thành viên, hiệp định vẫn có thể có hiệu lực nếu 6 trong số 12 thành viên, đại diện cho 85% tổng GDP của nhóm phê chuẩn nó. Mỹ và Nhật Bản, chiếm lần lượt gần 62% và hơn 17% trong tổng GDP, hoàn toàn có quyền phủ quyết việc phê chuẩn trên. Chủ nghĩa dân túy chống đối đối thương mại hiện là một mối quan tâm lớn không chỉ ở Mỹ và châu Âu mà còn ở cả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang diễn ra. Ông Donald Trump phản đối. Bà Hillary Clinton giả vờ phản đối vì mục đích chính trị nhưng các nhà phân tích kinh tế cho rằng TPP sẽ được thông qua nếu bà Clinton trở thành Tổng thống.
Các cuộc đàm phán Hiệp định TTIP đang bước vào giai đoạn cam go nhất khi phải đối mặc với sự phản đối gay gắt chưa từng có trên các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại và EU đang trong thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng đa chiều dữ dội. Giống như TPP, TTIP phải được xem là sự mở rộng hợp lý của các chính sách kinh tế quốc tế của cả Mỹ lẫn EU mà được giới tinh hoa định hướng. Nó phản ánh sự thất vọng đối với các cuộc đàm phán thương mại đa phương (MTN) đã bị thất bại trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 - vòng đàm phán Doha. Nó đồng thời thể hiện các cam kết của giới tinh hoa chính sách Washington và Brussels trong việc tham gia vào 'sự tự do hóa cạnh tranh trong thương mại' nhằm loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (NTB) ‘bên trong lãnh thổ các quốc gia’ trong lĩnh vực dịch vụ và lĩnh vực tài chính - các ngành hiện tại đang thống trị hoạt động thương mại xuyên Đại Tây Dương.
Các lập luận ủng hộ TPP và TTIP
Về cơ bản, có năm lập luận ủng hộ cho hai hiệp định này. Thứ nhất, TPP được coi là một bước tiến quan trọng trong việc tự do hóa thương mại hàng hóa giữa các nước thành viên. Và cần lưu ý rằng, không giống như ở Đại Tây Dương, ở Thái Bình Dương, thương mại hàng hoá vẫn quan trọng hơn thương mại dịch vụ. Mặc dù TPP có tổng dân số chỉ dưới 800 triệu người nhưng tổng GDP lên đến khoảng 28,5 nghìn tỷ đô-la. Những người ủng hộ TPP chỉ ra rằng khoảng 98% các dòng thuế trong TPP sẽ được loại bỏ và các biện pháp tạo thuận lợi thương mại sẽ đảm bảo rằng hàng hóa được dịch chuyển xuyên các quốc gia thành viên một cách tự do nhất có thể (USTR). Bên cạnh đó, những người ủng hộ cũng thấy được tiềm năng tăng lợi ích từ TPP lên 295 tỷ đô-la vào năm 2025, trong đó Mỹ sẽ có được 78 tỷ đô-la và Nhật Bản sẽ có 119 tỷ đô-la (Hamilton, 2014, tr. 83).
Tương tự như TPP, những người ủng hộ đã lập luận rằng TTIP có tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho các quốc gia cả hai bờ Đại Tây Dương. Giống như TPP, với quy mô như vậy, TTIP không chỉ là một hiệp định thương mại. Thực tế rằng, ở cả điều kiện tuyệt đối và tương đối, TTIP là phạm vi của các tương tác mà những người ủng hộ TTIP được xem là động lực chính. Họ nhấn mạnh về sự thống trị của Mỹ và châu Âu trong nền kinh tế toàn cầu, với 75% thị phần trong thị trường tài chính, 50% giá trị GDP và 41% giá trị GDP khi có hiệu chỉnh đồng giá sức mua (PPP), hơn 40% giá trị thương mại dịch vụ và 33% giá trị thương mại hàng hóa, và 57% và 75% FDI được đầu tư vào và đầu tư ra bên ngoài. Đến tận cuối năm 2011, đầu tư của Mỹ ở châu Âu vẫn gấp bốn lần đầu tư của Mỹ ở châu Á (Hamilton, 2014, tr. 82-3). Lợi ích kinh tế thực sự từ TTIP ban đầu được tính vào khoảng 159 tỷ đô-la mỗi năm cho EU và 127 tỷ đô-la cho Mỹ.
Thứ hai, những người ủng hộ cả TPP và TTIP chỉ ra rằng các hàng rào phi thuế là trở ngại lớn nhất còn lại đối với thương mại. Như đã được đề cập trong các tài liệu kinh tế từ trước, nhiều vòng đàm phán thương mại đa phương của GATT trong suốt nửa sau của thế kỷ 20 đã giảm thiểu thành công nhiều công cụ bảo hộ thương mại chính. Những người ủng hộ cả hai hiệp định thấy rằng tháo dỡ các biện pháp bảo hộ ‘bên trong lãnh thổ các quốc gia' là mục tiêu cuối cùng.
Các hàng rào phi thuế chính được cả hai hiệp định xác định là 'sự không liền mạch của các quy định’, đó là những rào cản về quan liêu và quản lý thương mại. Có ý kiến cho rằng một số quy định tồn tại đơn giản chỉ để làm cho các công ty nước ngoài tốn kém hơn khi bán hàng hoá ở thị trường nước ngoài, nhằm bảo vệ các doanh nghiệp nội địa. Việc tạo ra các tiêu chuẩn chung cho thị trường quốc tế được lập luận là sẽ làm suy yếu hoạt động bảo hộ thương mại của các hàng rào phi thuế. Ít nhất, việc đó sẽ cung cấp một khuôn khổ cho các cuộc đối thoại xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, và cho sự chấp nhận rộng rãi hơn các tiêu chuẩn chung (Chia, 2015) - những điều thường được xem là ‘một thỏa thuận sống còn'. Và việc tạo ra các tiêu chuẩn chung vẫn sẽ tiếp tục sau khi hiệp định chính thức có hiệu lực. Hơn nữa, tạo ra các tiêu chuẩn chung bằng cách hạn chế các khoản trợ cấp, phân biệt đối xử và thiên vị các doanh nghiệp quốc doanh sẽ tạo ra một sân chơi công bằng hơn và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài trong việc cạnh tranh giành các hợp đồng mua sắm chính phủ.
Thứ ba, cơ chế Giải quyết Tranh Chấp giữa Nhà đầu tư và Quốc gia (ISDS) trong cả hai hiệp định được cho rằng là để khuyến khích đầu tư xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, và tăng cường khả năng bảo vệ cho các nhà đầu tư. Cơ chế ISDS không phải là mới mà đã được đưa vào các hiệp định song phương từ những năm 1950. Các tranh luận ủng hộ cho rằng việc cập nhật các quy tắc này sẽ khuyến khích đầu tư tại các quốc gia có cơ chế pháp lý yếu kém một khi tại đó tình trạng lạm dụng quyền lực được kiểm soát.
Thứ tư, cả hai hiệp định nhằm mục đích hướng tới tầng lớp lao động phổ thông và các tiêu chuẩn môi trường. Trong thương mại hàng hóa và dịch vụ, các thành viên đều được đối xử nền tảng bình đẳng.
Thứ năm, cả hai hiệp định đều được xem như là hiệp định tiên tiến nhất thế kỷ 21 nhằm thiết lập các tiêu chuẩn cao hơn cho các hiệp định thương mại và đầu tư trong tương lai. Bất kể có nhiều điểm khác biệt, Mỹ và EU đều có tiêu chuẩn cao hơn so với các nước đang phát triển, nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico và các nước đang phát triển (DCs) khác - các quốc gia đang cố gắng tìm kiếm lợi nhuận từ thị trường đầu tư toàn cầu cạnh tranh cao. Các tiêu chuẩn cao hơn được chấp thuận thông TPP và TTIP cho Mỹ thêm đòn bẩy trước các quốc gia thương mại mới nổi. Bất kỳ yêu cầu xin gia nhập TPP hay TTIP trong tương lai đều sẽ phải chấp nhận các tiêu chuẩn này. Theo lời Edward Alden “... những thõa thuận này là cơ hội có sẵn tốt nhất cho các chính phủ giàu nhất thế giới để có được quyền kiểm soát nhiều hơn".
Các lý luận chống lại TPP và TTIP
Những người phản đối TPP và TTIP đưa ra hàng hàng loạt các lời chỉ trích.
Đầu tiên, các cuộc đàm phán và một số các quy định của cả hai Hiệp định được cho là phản dân chủ. Sự thiếu minh bạch và sự khước từ dân chủ là vấn nạn chung (Ville & Siles-Brugge, 2015). Điều này quan trọng ở cả hai châu lục, nhưng có lẽ quan trọng ở châu Á Thái Bình Dương hơn ở Đại Tây Dương. Trong suốt quá trình đàm phán TPP, các nhà vận động hành lang của các doanh nghiệp đã được tham vấn rộng rãi nhưng không có bất kỳ cuộc tham vấn thực sự có ý nghĩa nào đã diễn ra với các nhóm người tiêu dùng, các tổ chức nộp thuế, các tổ chức công đoàn, các chuyên gia sức khỏe hoặc các chuyên gia môi trường. Các đại biểu dân cử, chẳng hạn như các thành viên của Quốc hội Mỹ, chỉ được tiếp cận các tài liệu đàm phán một cách rất hạn chế và họ cũng không được phép thảo luận sâu. Do đó, những người phản đối xem TPP như một thỏa thuận đàm phán vì lợi ích của các tập đoàn lớn, không phải của tầng lớp nhân dân các nước (Reich, 2015). Quan điểm tương tự được đề cập trong các lý luận phản đối ở các nước thành viên TPP khác.
TTIP gặp phải sự phản đối tương tự. Các thành phần chống đối đều giống nhau gồm các nhà đàm phán của chính phủ, các nhóm người tiêu dùng, tổ chức lao động, các nhà môi trường học và các tổ chức xã hội dân sự (CSOs) khác. Nhưng sự phản đối từ các nhóm như vậy đã mạnh mẽ hơn, rộng rãi hơn và linh hoạt hơn ở châu Âu hơn so với ở châu Á Thái Bình Dương. Điều này có thể được giải thích bởi mức độ sự phát triển chính trị khác nhau ở hai khu vực và nhất là thực tế rằng tiêu chuẩn lao động, môi trường và tiêu chuẩn của người tiêu dùng ở châu Á thấp hơn so với ở châu Âu. TPP được mong đơi là sẽ tăng cường các tiêu chuẩn của nhiều đối tác của Mỹ ở châu Á (trừ Úc và New Zealand); do đó, sự chống đối ở châu Âu yếu hơn ở hơn so với ở Mỹ.
Hơn nữa, trái ngược với khu vực châu Á Thái Bình Dương, các cuộc đàm phán xuyên Đại Tây Dương là đàm phán song phương, và Ủy ban châu Âu, đại diện cho 28 quốc gia châu Âu, cần phải chịu trách nhiệm với một loạt các nhóm quyết định. Mặc dù kiểm soát dân chủ là ở hiện tại nhưng cuối cùng, chi tiết của Hiệp định vẫn sẽ cần phải được chấp thuận bởi Nghị viện châu Âu. Trong xã hội dân sự, sự phản đối đàm phán thương mại vì xung đột giá trị lợi ích không phải là mới, và lịch sử của WTO là một minh chứng. Những cuộc tranh luận công khai về TTIP trên cả hai bờ Đại Tây Dương diễn ra rất mạnh mẽ. Phe chống đối của TTIP chắc chắn là đã truyền thông tốt hơn, rõ hơn và có lẽ ít định hướng tư tưởng hơn so với phe chống đối sự ra đời của WTO hay TPP trước đây. Ngoài ra, mặc dù vẫn vấp phải sự chỉ trích nhưng EC đã cố gắng hết sức để sử dụng các nguyên tắc quản trị cởi mở và tham gia vào quá trình ra quyết định các vấn đề của TTIP.
Thứ hai, lợi ích của cả hai hiệp định này rõ ràng đã được phóng đại, còn những hạn chế thì bị dấu nhẹm. Ví dụ, những người phản đối TPP ở các nước phát triển, nhất là ở Mỹ, thấy các hiệp định thương mại trước kia, như NAFTA và gần đây là FTA Hàn Quốc-Mỹ, dường như góp phần vào việc phá hoại các ngành công nghiệp và các ngành sản xuất, và chuyển việc làm ra nước ngoài. Họ tranh luận rằng sẽ chẳng nhận được gì từ TPP (Harford, 2016; Wallach, 2016).
Trong trường hợp của TTIP, những khẳng định rằng TTIP sẽ là nguồn tăng trưởng kinh tế chính đã mất đi sự thuyết phục. Khi các cuộc đàm phán đang diễn ra, các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô tới sự tăng trưởng GDP được giả định đã bị thu nhỏ lại (Capaldo, 2104). Hơn nữa, bên cạnh những lợi ích có được (0,2%-0,4% GDP cho Mỹ và 0,3%-0,5% cho EU vào năm 2027), hầu hết người lao động đều sẽ bị thiệt hại của và sự bất bình đẳng sẽ gia tăng (Rosnick, 2015). Nhưng đây không đơn giản chỉ là mối quan cơ bản của châu Âu. Khi họ phản đối TPP, những người phản đối TTIP ở Mỹ lo lắng về tác kinh tế vĩ mô tiêu cực sẽ làm cho thất nghiệp và sự suy giảm trong các ngành công nghiệp sản xuất sẽ trầm trọng thêm (đặc biệt là trong ngành công nghiệp ô tô trong bối cảnh cạnh tranh ở châu Âu).
Thứ ba, các nhà phê bình của cả hai hiệp định chống lại những tranh luận rằng việc cải cách quy định sẽ mang lại lợi ích. Cụ thể là, những người phản đối TTIP ở châu Âu chống lại các khái niệm về 'sự không liền mạch của các quy định'. Thay vào đó, họ giả định rằng các quy định của chính phủ sẽ giải quyết những thách thức trong các lĩnh vực phát triển con người, đặc biệt là y tế, nông nghiệp và môi trường. Những người phản đối thấy được sự không đồng nhất cơ bản giữa triết lý quản lý của Mỹ và của châu Âu. Nguyên tắc phòng ngừa (precautionary principle) của Châu Âu trái ngược với phương pháp định hướng phân tích lợi ích về chi phí (cost-benefit analysis-driven approach) của Mỹ. Ackerman (2016, tr. 4-5), hai chính sách điều tiết của châu Âu: (a) Đăng ký, Đánh giá, Cấp phép và Hạn chế về Hóa chất (REACH) và (b) tiêu chuẩn năng lượng tái tạo, có thể giúp tiết kiệm lên đến 110 tỷ euro một năm, tương đương với các phỏng đoán có lợi nhất về lợi ích châu Âu có được từ thương mại với TTIP. Những người phản đối tranh luận, TTIP sẽ gây những rủi ro bên cạnh các lợi ích, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế, phát triển bền vững môi trường, các tiêu chuẩn về lao động và về xã hội – mặc dù các quy định của châu Âu đã được tăng cường trong những năm đầu thế kỷ 21.
Thứ tư, cơ chế ISDS dành cho các tập đoàn nước ngoài quyền bỏ qua tòa án trong nước khiếu kiện lên tòa án quốc tế để đòi bồi thường vì các chính sách can thiệp của quốc gia đã ảnh hưởng khả năng sinh lợi của họ. Có một số hạn chế về quyền khiếu kiện của các tập đoàn, những người chống lại chương này hiệp định cho rằng nó làm hạn chế nghiêm trọng chủ quyền của các chính phủ dân cử, đặc biệt là trong lĩnh vực chính sách như các vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng và các quy định của ngành chẳng hạn như bất động sản và tài chính (Warren, 2015). Như đã lưu ý trước đó, điều đó hoàn toàn không mới đối với cả TPP và TTIP. Họ đã có các công cụ từ các thỏa thuận thương mại song phương trước đó, nhưng bằng cách hạn chế không gian chính sách công, chính phủ đang dành quá nhiều nỗ lực để bảo vệ nhà đầu tư và bỏ qua quyền lợi của người tiêu dùng và của người lao động.
EC khẳng định họ chống lại lập luận rằng TTIP là một sự thụt lùi. Tuy nhiên, những người phản đối, gồm cả các thành viên của Nhóm Tư vấn TTIP, lập luận rằng có thể vẫn không tránh khỏi việc hạ thấp tiêu chuẩn trong các lĩnh vực mà châu Âu và Mỹ nhìn nhận ở các giác độ khác nhau như chính sách về khí hậu và năng lượng, tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, hóa chất, bảo vệ dữ liệu, mua sắm công và lao động. Trong các lĩnh vực đó, các biện pháp nhằm hạ các tiêu chuẩn chung sẽ được ban hành để bảo đảm thỏa thuận.
Thứ năm, tương tự vậy, những người chống lại các chương Quyền Sở hữu Trí tuệ (IPR) ở các Hiệp định này cũng thấy được sự bảo vệ quyền của chủ đầu tư quá mức. Ví dụ, trong Hiệp định TPP, các quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ được xem là ‘bắt buộc’ trong khi các quyền của người sử dụng chỉ được xem là 'tùy chọn'. Tương tự như vậy, việc mở rộng quy định về quyền tác giả thường không cân xứng, và hình phạt đối với hành vi vi phạm cũng đang bị phản đối. Các vấn đề thường xuyên được đề cập là sự gia tăng chi phí của dược phẩm do các quy định sở hữu trí tuệ (Geist, 2016). Những người phản đối cho rằng hiệp định đã lờ đi sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế và công nghệ đang tồn tại giữa các thành viên. Những quốc gia TTP sản xuất các sản phẩm công nghệ cao và giữ số lượng lớn các bằng sáng chế - nhất là Mỹ và Nhật Bản, sẽ có thể bảo vệ ngành công nghiệp công nghệ cao của họ, trong khi các nước có lợi thế về khai thác tài nguyên và về chi phí sản xuất sẽ cảm thấy khó khăn để di chuyển lên bậc cao hơn trong chuỗi nấc thang công nghệ.
Thứ sáu, giống như các FTA song phương khác của Mỹ, cả hai hiệp định được cho là có tính đối xứng tiêu cực (negatively asymmetrical) ở châu Á và châu Âu. Từ quan điểm đặc biệt của châu Âu, thậm chí một số còn cho rằng hiệp định phản ánh một cuộc đụng độ của các mô hình tổ chức của chủ nghĩa tư bản, nơi các vấn đề đang bị đe dọa không chỉ đơn giản chỉ là những sự nhượng bộ thương mại. Thay vào đó, họ nhìn thấy TTIP thiết lập lại mối quan hệ giữa các quốc gia, thị trường và các công ty đa quốc gia - những người tạo ra, hoặc ít nhất là định hướng thị trường. Đối với những người phản đối, các quy định của TTIP không đơn giản chỉ là một vấn đề kinh tế; nó là một sự lựa chọn chính trị về cách làm thế nào để quản lý chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Theo Pierre Defraigne, cựu Viên chức của cơ quan điều hành Cộng đồng Âu châu (Eurocrat), TTIP là ... ‘một cuộc tấn công trực diện chống lại mô hình châu Âu’ (2016, tr.11-13).
Chủ nghĩa đại khu vực (Mega-regionalism) và địa chính trị (geo-politics) của TPP và TTIP
Phần trước đã trình bày tóm tắt, các lập luận 'ủng hộ' và 'chống lại' TPP và TTIP. Rõ ràng là, có sự chồng chéo đáng kể trong cả hai nhóm lập luận. Nói chung, cả hai hiệp định đều phản ánh sự thay đổi lớn, đi từ chủ nghĩa đa biên đến chủ nghĩa (đại) khu vực. Sự khu vực hóa (và chính trị hóa) của chính sách thương mại không phải là mới. Các FTA và PTA khu vực (và song phương) đã tồn tại trong một khoảng thời gian dài và các hiệp định đó thường bị thúc đẩy bởi chiến lược chính trị cũng như kinh tế. Thật vậy, 9/11 FTA đã trở thành điều kiện tiên quyết cho việc ‘chứng khoán hóa’ các chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ (Higgott, 2004). Nhưng, có sự khác biệt giữa TPP và TTIP, và giữa các tiêu chuẩn của các FTA khác.
Đầu tiên và rõ ràng nhất, TPP và TTIP là các cuộc đàm phán tự do hóa thương mại và được mở rộng vượt xa cả về tham vọng của và quy mô của chúng. TPP và TTIP gợp lại chiếm hai phần ba sản lượng toàn cầu.
Thứ hai, ngoài các cuộc đàm phán thương mại tiêu chuẩn như tập trung vào cắt giảm thuế quan, các hiệp định này được mong đợi sẽ mang lại sự thay đổi lớn trên danh nghĩa về trật tự thương mại toàn cầu trong các lĩnh như thiết lập các tiêu chuẩn, tạo ra các tiêu chuẩn chung và giải quyết tranh chấp, và vượt ra ngoài phạm vi của WTO.
Có sự khác biệt cụ thể giữa TPP và TTIP là: (a) mặc dù các lý lẻ ủng hộ TPP không được tranh luận công khai ở châu Á nhưng TPP sẽ tăng cường phát triển tính dân chủ theo một cách nào đó, điều này ít cần thiết hơn trong TTIP; và (b) TPP dự kiến sẽ tăng cường các tiêu chuẩn về lao động và về môi trường ở châu Á nhiều hơn so với ở châu Âu, tuy nhiên châu Âu đang sợ hãi rằng TTIP sẽ phá hủy những tiêu chuẩn đó.
Thứ ba, các cuộc đàm phán khác nhau về các khía cạnh mà TPP là một cuộc đàm phán đa phương giữa 12 quốc gia và một loạt các cuộc thảo luận song phương với các đối tác; đặc biệt là giữa Mỹ và các thành viên TPP mà chưa có một FTA song phương trước đó. Ngược lại, TTIP thực chất là một cuộc đàm phán song phương giữa Washington và Brussels.
Thứ tư, đối với Mỹ, hai hiệp định này được xem như hành động để phục hồi mối quan hệ xuyên đại dương và để tăng cường sức ảnh hưởng trước các 'đối thủ', đặc biệt là Trung Quốc ở châu Á và Nga ở châu Âu. Khi Đại sứ Mỹ tại EU, Anthony Gardner, nói rõ rằng: 'tranh luận thuyết phục nhất cho TTIP là tranh luận về địa chính trị... Nói về việc tái khởi động quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương’. Sự tiếp cận này không phải là không có nguy hiểm. Sự cảm tính trong tranh luận về TTIP ở châu Âu (đặc biệt là ở Đức và Pháp) dường như đã làm trầm trọng thêm chủ nghĩa chống Mỹ (Kundnani, 2016). TTIP thay vì giúp thắt chặt cho mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, nhưng trên thực tế, TTIP có thể sẽ tạo ra cả sự bất hòa và sự hòa hợp nếu các cuộc đàm phán bế tắc, Hamilton (2015).
TTIP và TPP đều phản ảnh sự chính trị hóa hoạt động thương mại ưu đãi
Bối cảnh an ninh chính trị ở châu Âu khác với ở châu Á. Nếu TTIP là mang ý nghĩa địa chiến lược trong cả khái niệm và thực hành, nó cần phải được định hướng bởi một tập hợp các giá trị (được phổ cập tốt nhất) hơn là lợi ích kinh tế xác định theo vùng địa lý, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ của chủ nghĩa dân túy quốc gia. Đặt giá trị địa chiến lược vào các thoả thuận thương mại khu vực luôn có rủi ro chính trị. TTIP và TPP đều phản ảnh sự chính trị hóa hoạt động thương mại ưu đãi tương tự như nhiều PTA trong suốt 20 năm qua. Nhưng, nhiều trong số các PTA đó có quy mô nhỏ, song phương và không đối xứng mang lại lợi ích lớn hơn so với tham gia TPP và TTIP. Các PTA trước đây là trọng tâm chiến lược của Tổng thống Obama trong việc tái cân bằng châu Á khi đối mặt với sự nổi lên của Trung Quốc (Tellis, 2014). TTIP được xem như là một giải pháp để giải quyết những lo ngại của châu Âu về sự chuyển trục sang châu châu Á của Mỹ, khi việc chuyển trục này gây lo ngại về việc có thể làm giảm các cam kết của Mỹ đối với châu Âu. Nếu một trong hai Hiệp định thất bại, rõ ràng sẽ có hậu quả tiêu cực đối với sự tín nhiệm chính sách đối ngoại của Mỹ.
Cuối cùng, cả hai hiệp định sẽ không còn bị ảnh hưởng bởi quyết định ly khai khỏi EU của Anh. Các hệ lụy của Brexit đối với TTIP lớn hơn so với TPP. Rõ ràng là còn quá sớm để nói bất cứ điều gì chắc chắn, nhưng một số điều hiển nhiên có thể được ghi nhận. Nó chắc chắn đòi hỏi châu Á phải có vai trò lớn hơn trong việc chống đỡ bất kỳ tác động dây chuyền nào cho nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là ở mức độ mà Brexit tác động đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu và mang các ngoại tác tiêu cực cho sự tự do thương mại hóa của hệ thống thương mại toàn cầu.
Các tác động đến TTIP không rõ ràng. Một mặt, hiện nay Brussels chưa có kế hoạch cho chính sách thương mại chung của EU từ khi không có Vương quốc Anh. Chắc chắn, sự ra đi của Vương quốc Anh đã thu nhỏ thị trường EU và làm suy yếu sự ảnh hưởng của EU đối với Mỹ, trong đó Anh luôn được xem là đối trọng tự do mạnh mẽ đến các thành viên có nền kinh tế trung ương tập quyền của EU, như Pháp và Italy, trong các cuộc đàm phán. Brexit sẽ cho những người có xu thế bảo hộ thương mại có tiếng nói chính trị có sức ảnh hưởng hơn tại EU. Mặt khác, thương mại là thẩm quyền duy nhất của EU, không phải của các quốc gia thành viên, và mong muốn về các cuộc đàm phán với Mỹ vẫn duy trì mạnh mẽ ở hầu hết các thủ đô châu Âu. Các mối quan tâm của những người phải đối TTIP được nêu trong bài báo này tồn tại không phụ thuộc vào Brexit, và một số người cho rằng loại trừ Anh ra khỏi các cuộc đàm phán thậm chí có thể giải phóng một số lĩnh vực chính sách thương mại của EU, ví dụ như trong các công cụ bảo vệ thương mại.
Nhưng Anh chiếm đến 25% của tổng xuất khẩu của Mỹ sang EU. Có thể là bên ngoài EU, Anh có thể đạt được điều kiện thuận lợi hơn so với ở trong EU. Ngược lại, EU có thể đạt được điều kiện kém thuận lợi. Quan trọng hơn, và nếu như có thể được, Mỹ và Anh sẽ tham gia vào một cuộc đàm phán thương mại song phương, nhưng bất kỳ thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và EU khó có thể hoàn thành cho đến khi Mỹ đạt được các thõa thuận với Vương quốc Anh. Bằng cách bỏ phiếu để ly khai khỏi EU, Anh đã thực sự nhảy vọt lên và tự đặt mình vào vị trí quan trọng trong các cuộc đàm phán thương mại EU/US.
Kết luận
Ví như một hệ quả của sự tham vọng, cả TPP lẫn TTIP đều gây ra nhiều tranh cãi. Hầu hết các nhà lãnh đạo ký kết TPP là người ủng hộ Hiệp định này rất mạnh mẽ, bởi vì các tập đoàn lớn sẽ có lợi ích từ việc thực hiện chúng. Nhưng ở các nước thành viên, nhiều người đã xuống đường để phản đối Hiệp định này. Và một loạt các nhóm xã hội dân sự, từ công đoàn và các tổ chức môi trường cho đến các chuyên gia y tế và các ứng viên Tổng thống – đều không ủng hộ TPP. Sự phê chuẩn TPP cũng có thể xảy ra ở cả hai thành viên lớn, là Mỹ và Nhật Bản, nhưng cả hai nước đều không chắc chắn sự phê duyệt này (Mulgan, 2016). Việc hoàn tất TTIP thậm chí trông còn khó khăn hơn. Chỉ bắt đầu vào tháng 6 năm 2013, các cuộc đàm phán đang diễn ra trong một vài năm sau TPP, và các tiến triển trong các cuộc đàm phán đang đang bị kéo dài và gây tranh nhiều cãi. Nếu đàm phán không được đảm bảo phê duyệt trước khi Tổng thống Obama hết nhiệm kỳ, sau đó để hoàn thành nó trước 2021 là điều khó xảy ra.
Vận động hành lang phản đối chống lại TTIP đã đạt được một số thành công, các chính trị gia cấp cao cấp của các nước – nhất là của Pháp và Đức, cũng đã có sự nghi ngờ, và cả hai nước cũng sẽ có cuộc tổng tuyển cử vào năm 2017. Đó là sự thành công của phe phản đối TTIP, đặc biệt là trong việc chống lại cơ chế ISDS. Hiện các quan chức chính phủ Mỹ và EU đang rất nhạy cảm, với yêu cầu tham gia sâu của các bên liên quan không chính thức hơn trong những kỳ đàm phán thương mại trước. Để đối phó với phe chống đối, EU đã đưa ra một loạt các cải cách để có thể để chứng minh việc không đồng thuận đối với Mỹ. Tương tự, khi đối mặt với những phản đối với đề xuất của Mỹ về tự do hoá thương mại trong lĩnh vực dịch vụ, EU đã đề xuất hơn 200 khoản loại trừ, nhiều trong số đó cũng chứng minh việc EU không thể đồng thuận đối với Mỹ. Hiện cũng không có dấu hiệu nào cho thấy hiệp định có thể đạt được thõa thuận sớm về các vấn đề gây tranh cãi trong nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng biến đổi gen, kháng sinh, hormone trong thịt bò và chỉ dẫn địa lý.
Như vậy là khía cạnh chính trị và kinh tế của TTIP đan xen lẫn nhau và phần lớn chưa được giải quyết, và có một số thông điệp cụ thể cho châu Âu từ kinh nghiệm của châu Á Thái Bình Dương. Đáng chú ý, nhiều vấn đề ít gây tranh cãi ở Thái Bình Dương hơn ở châu Âu. Điều này được giải thích bởi một số yếu tố bao gồm: (a) mức độ khác biệt về sự phát triển kinh tế và chính trị ở hai khu vực; (b) phe chống đối ở Thái Bình Dương kém tiến bộ (và trong một số trường hợp ít tự do để phản đối) hơn ở châu Âu; và (c) các cuộc đàm phán cũng có một sự khác biệt về tầm quan trọng. Đặc biệt, vấn đề tạo ra tiêu chuẩn chung là vấn đề chính trị ít được quan tâm trong TPP hơn so với trong TTIP. Điều này phần nào phản ánh thực tế là bây giờ thương mại dịch vụ quan trọng hơn đối với nền kinh tế xuyên Đại Tây Dương, trong khi thương mại hàng hoá vẫn chiếm ưu thế hơn ở châu ÁThái Bình Dương. Những người phản đối TTIP thấy rằng việc tạo ra các tiêu chuẩn chung gặp nhiều trở ngại lớn ở TTIP hơn so với TTP. Sự ly khai của Anh, và những người ủng hộ mạnh mẽ việc tạo ra tiêu chuẩn chung và ủng hộ TTIP nói chung thực sự là sẽ chỉ làm cho hiệp định xuyên Đại Tây Dương trong lĩnh vực này thậm chí còn khó khăn hơn.
Hơn nữa, không chỉ việc đàm phán Hiệp định Kinh tế và Thương mại Toàn diện (CETA) đã bị trì hoãn, bất kỳ ý tưởng nào về 'thúc đẩy' thỏa thuận đều bị bỏ qua. Sự chống đối với TTIP trên thực tế cũng mạnh hơn giả định, bởi vì sự hùng biện nhầm bảo hộ thương mại dường như đã phát triển mạnh trên cả hai bờ Đại Tây Dương. Thậm chí ở Đức, TTIP sẽ được thiết lập là một vấn đề tranh luận trong cuộc bầu cử liên bang sắp tới và chỉ có 17% ủng hộ cho TTIP. Ở giai đoạn này, các kết quả có thể xảy ra nhất là TTIP sẽ bị dừng lại từ từ.
Ở cấp độ vĩ mô, các bài học có thể có được từ quan sát TPP và TTIP là sự thay đổi thái độ của giới tinh hoa kinh tế và doanh nghiệp trong việc quản lý hệ thống thương mại toàn cầu trong thế kỷ 21, đặc biệt ở Mỹ và ở các cường quốc kinh tế lớn khác. Đàm phán thương mại kể từ đầu thế kỷ này, và đặc biệt là kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đến giờ, ngày càng mang đặc tính đại khu vực hơn so với đa phương theo kiểu WTO. Hoạt động này đến từ sự cân nhắc giữa địa vị chính trị và mong muốn tự do hóa thương mại với tất cả các tác động tiêu cực trong tương lai của WTO nói riêng và chủ nghĩa đa phương nói chung. Nhưng câu hỏi chưa được giải quyết là liệu những xu hướng về nền kinh tế toàn cầu trong tư duy và thực hành có thể giúp chống lại phe chống đối dân túy đang ngày càng tăng.
Richard Higgott, Giáo sư danh dự môn Kinh tế Chính trị Quốc tế, Đại học Warwick.
Nguồn : http://www.realinstitutoelcano.org
Từ khóa : Có nhiều bài học,cho châu Âu, từ kinh nghiệm, của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).






















