JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnCác cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bán lẻ

Các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bán lẻ

Thị trường bán lẻ Vn

Với triển vọng phát triển đầy hấp dẫn, thị trường bán lẻ Việt Nam là một trong những lĩnh vực dịch vụ nhận được nhiều đòi hỏi mở cửa của các đối tác trong đàm phán cũng như trong thực thi các cam kết thương mại quốc tế của Việt Nam.

Quan sát các cam kết mở cửa của Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ nói riêng và phân phối nói chung, có thể thấy Việt Nam có quan điểm khá mở trong vấn đề này với mức mở cửa mạnh mẽ hơn nhiều so với nhiều lĩnh vực dịch vụ khác.

Phần I: Cam kết mở cửa thị trường bán lẻ trong BTA và WTO.

Cam kết mở cửa trong BTA

Cam kết mở cửa thị trường bán lẻ đầu tiên phải kể đến Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Lỳ năm 2001 (BTA). Mức độ mở cửa thị trường phân phối nói chung và bán lẻ nói riêng trong BTA rộng tương tự WTO sau này. Mặc dù vậy, ảnh hưởng thực tế của BTA không lớn, do chỉ mở cho đối tác Hoa Kỳ, và nhà bán lẻ Hoa Kỳ lại chưa quan tâm nhiều đến thị trường bán lẻ Việt Nam.

Cam kết mở cửa trong WTO

Cam kết mở cửa chủ yếu và được nhắc tới nhiều nhất trong lĩnh vực phân phối cho tới thời điểm này là các cam kết gia nhập WTO năm 2007 với 04 điểm nổi bật.

Thứ nhất, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối áp dụng chung cho cả 04 phân ngành là đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ, bán hàng đa cấp, nhượng quyền thương mại.

Thứ hai, về mức độ mở cửa, lộ trình mở cửa áp dụng cho các nhà bán lẻ nước ngoài Việt Nam cam kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện hoạt động phân phối tại Việt Nam sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO 11/1/2007 dưới hình thức bắt buộc là liên doanh với đối tác Việt Nam (phần vốn nước ngoài trong liên doanh bị giới hạn không quá 49%); từ ngày 1/1/2008 được phép hoạt động dưới hình thức liên doanh nhưng không bị hạn chế về tỷ lệ vốn nước ngoài trong liên doanh; và được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ kể từ sau ngày 1/1/2009.

Như vậy, chỉ chưa đầy 03 năm sau thời điểm gia nhập WTO, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ về các hình thức hiện diện thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối. Lộ trình này là khá ngắn so với lộ trình 5 năm của các dịch vụ chuyển phát, chứng khoán, vận tải…và còn ngắn hơn nữa so với lộ trình của rất nhiều ngành dịch vụ mà Việt Nam thậm chí không có cam kết gì về thời điểm mở cửa hoàn toàn như các dịch vụ viễn thông cơ bản, dịch vụ nghe nhìn, phim ảnh, du lịch…

Thứ ba, về phạm vi hoạt động, một điều kiện mà Việt Nam đã đưa ra trong cam kết mở cửa trong WTO là các nhà bán lẻ nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ bán lẻ thông qua việc lập cơ sở bán lẻ (cửa hàng, siêu thị…) và chỉ được động mở một (01) địa điểm bán lẻ (mà không cần phải đáp ứng điều kiện gì), việc lập các cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép trên cơ sở phân tích nhu cầu kinh tế (Economic-Need-Test hay ENT).

Phần II: Cam kết mở cửa thị trường bán lẻ trong TPP.

Do hiện tại, thực hiện cam kết trong WTO, Việt Nam đã mở cửa thị trường bán lẻ hoàn toàn cho nhà đầu tư nước ngoài (về hình thức hiện diện thương mại, về các loại hoạt động) và chỉ còn giữ lại 02 hàng rào là (i) kiểm tra nhu cầu kinh tế ENT đối với cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất, và (ii) 07 nhóm hàng cấm nhà bán lẻ nước ngoài được phép kinh doanh, đàm phán trong TPP về mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam thực chất chỉ tập trung vào việc dỡ bỏ 02 loại hàng rào ở mức độ khác nhau.

Kết quả đàm phán TPP về mở cửa thị trương bán lẻ Việt Nam được thể hiện tại Chương 9 (Đầu tư), Chương 10 ( Dịch vụ xuyên biên giới), Phụ lục I và Phụ lục II về các Biện pháp không tương thích Văn kiện TPP.

Về phạm vi, các cam kết trong TPP của Việt Nam về mở cửa thị trường bán lẻ chỉ áp dụng cho các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các nước TPP, không áp dụng cho các trường hợp khác. Như vậy đối với các nhà đầu tư từ các nước bên ngoài TPP, Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện cam kết như trong WTO.

Về nội dung mở cửa, cam kết của Việt Nam về 02 loại rào cản còn lại về bán lẻ như sau:

-  Về loại hàng hóa:

Việt Nam được quyền tiếp tục không cho phép nhà bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam phân phối 07 nhóm hàng hóa (như trong WTO).

Ngoài ra, đối với dịch vụ bán lẻ bán lẻ qua biên giới, Việt Nam bảo lưu quyền quy định bất kỳ biện pháp hạn chế nào đối với việc phân phối các loại hàng hóa không phải sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân hay chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc thương mại.

-  Về công cụ ENT:

Việt Nam được quyền tiếp tục yêu cầu ENT đối với việc lập cơ sở bán lẻ (trừ cơ sở bán lẻ thứ nhất) của nhà bán lẻ từ các nước TPP theo cách thức như trong cam kết TPP trong vòng 05 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực. Hết hạn 05 năm này, Việt Nam phải bỏ toàn bộ yêu cầu ENT.

Tuy nhiên, Việt Nam cam kết bỏ yêu cầu ENT ngay khi TPP có hiệu lực đối với trường hợp cơ sở bán lẻ có diện tích dưới 500m2 tại các khu vực đã được UBND tỉnh quy hoạch cho hoạt động mua bán hàng hóa và đã hoàn thành cơ sở hạ tầng.

Phần III: Cam kết mở cửa thị trường bán lẻ trong EVFTA.

Cam kết về mở cửa thị trường bán lẻ Việt nam cho đối tác EU trong EVFTA đwọc nêu trong Chương 8 (Thương mại dịch vụ, đầu tư và thương mại điện tử) và phụ lục 8-d của Chương này.

Mặc dù có cách thức đàm phán khác với TPP (TPP đàm phán theo phương thức chọn – bỏ, EVFTA đàm phán theo phương pháp chọn - cho), kết quả đàm phán về mở cửa thị trường bán lẻ trong EVFTA gần như giống hoàn toàn với các cam kết TPP về mở cửa thị trường nay.

Khác biệt duy nhất giữa EVFTA và TPP về mở cửa thị trường bán lẻ là cam kết trong EVFTA nhấn mạnh việc Việt Nam có toàn quyền quyết định về việc ban hành các biện pháp quy hoạch đối với thị trường bán lẻ (miễn là các biện pháp quy hoạch này áp dụng không phân biệt đối xử) còn TPP không đề cập đến điều này. Mặc dù vậy, đây thực chất chỉ là việc nhấn mạnh thêm để tránh cách hiểu khác, còn về mặt nguyên tắc, ngay cả TPP không nêu vấn đề này thì Việt Nam vẫn hoàn toàn có quyền quy định về quy hoạch, không chỉ trong lĩnh vực bán lẻ mà trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ nói chung và thương mại, đầu tư nói riêng (miễn là không vi phạm các nguyên tắc chung về đầu tư và dịch vụ trong TPP, EVFTA, ví dụ nguyên tắc không phân biệt đối xử…). Do đó, về mặt thực tế, đây chỉ là khác biệt về câu chữ.

Như vậy cam kết trong TPP và EVFTA về mở cửa thị trường bán lẻ là tương tự nhau và cao hơn WTO liên quan đến ENT, theo đó TPP và EVFTA bỏ ENT theo lộ trình (ngay hoặc 05 năm) cho các nhà đầu tư từ các nước TPP và EU trong lĩnh vực bán lẻ vào Việt Nam. Các nhà đầu tư từ các nước khác vẫn tiếp tục tuân thủ các quy định về mở cửa thị trường theo cam kết WTO.

Phần IV: Cam kết quốc tế trong các lĩnh vực khác có ảnh hưởng tới ngành bán lẻ.

Trong khuôn khổ WTO, TPP hay EVFTA, bên cạnh các cam kết trực tiếp về mở cửa thị trường bán lẻ, rất nhiều các khía cạnh khác trong các văn bản này có ảnh hưởng tới ngành bán lẻ và sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam ở các mức độ khác nhau. Ví dụ:

- Cam kết về loại bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan sẽ ảnh hưởng tới nguồn cung cho ngành bán lẻ;

- Cam kết về hải quan – tạo thuận lợi thương mại, hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) tác động tới chi phí cho việc nhập khẩu hàng hóa vào thị trường bán lẻ;

- Cam kết về mở cửa thị trường vận tải (hàng không, hàng hải, đường sắt, đường bộ) giao nhận, kho bãi, cảng…tác động tới chi phí logistics qua đó ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí lưu thông hàng hóa phục vụ bán lẻ;

- Cam kết về mở cửa thị trường tài chính ảnh hưởng tới giá trong các dịch vụ tài chính phục vụ bán lẻ.

- Cam kết về viễn thông, thương mại điện tử tác động tới các mô hình/ phương thức bán lẻ và cạnh tranh trong bán lẻ.

- Cam kết về doanh nghiệp Nhà nước ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ có vốn Nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh…

Tuy nhiên, cam kết mở cửa được cho là sẽ tác động trực tiếp nhất tới thị trường bán lẻ và ngành bán lẻ Việt Nam, bao gồm:

- Cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa: Nhóm cam kết này ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn hàng cho thị trường bán lẻ Việt Nam.

- Cam kết về thương mại điện tử: Nhóm cam kết này tác động trực tiếp tới các mô mình bán lẻ sử dụng phương thức điện tử.

Tổng hợp từ “Dự thảo Báo cáo Nghiên cứu “Nhận diện rủi ro về chính sách đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và EVFTA””

Nguồn : TTWTO-NT

Từ khóa : Các cam kết quốc tế, về mở cửa, thị trường bán lẻ.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008753289
Go to top