
Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới (THM) là những hiệp định có mức độ cam kết sâu và rộng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực thương mại và đầu tư.
Do đó, các hiệp định này được coi là “cú hích” kỳ vọng tạo nên sức bật phát triển mới cho thương mại và đầu tư của Việt Nam trong trung và dài hạn.
Cơ hội song hành với thách thức
Ngày 5/6, tại Hà Nội, Trường Đại học thương mại phối hợp với Trường Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức Hội thảo “Tác động của các FTA THM tới thương mại và đầu tư Việt Nam”.
Theo các chuyên gia tại hội thảo, việc Việt Nam tham gia một số FTA THM như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và FTA Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA), đang tạo ra làn sóng hội nhập lần thứ hai mạnh mẽ hơn cho Việt Nam. Theo đó, làn sóng này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu (XK), cũng như gia tăng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam.
Ths. Ninh Thị Hoàng Lan – Trường Đại học Thương mại cho biết, cơ hội rõ ràng nhất mà các hiệp định CPTPP và EVFTA mang lại đó là giúp Việt Nam có thể mở rộng tiếp cận những thị trường XK rộng lớn. Cụ thể, CPTPP với 11 nước thành viên là thị trường lớn với gần 500 triệu dân. Năm 2019, tổng GDP của các nước thành viên đạt 11,26 nghìn tỷ USD (đóng góp khoảng 13% GDP toàn cầu), với tổng kim ngạch thương mại chiếm 14,4% tổng thương mại toàn cầu. Đối với thị trường châu Âu, EVFTA sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận với thị trường gồm 27 quốc gia thành viên EU với hơn 500 triệu dân, tổng GDP năm 2019 của các nước thuộc EU đạt 18,29 nghìn tỷ USD (chiếm khoảng 21,12% tổng GDP toàn cầu).
Không chỉ đem đến cơ hội gia tăng XK, theo Ths. Đặng Thị Thanh Bình – Trường Đại học Thương mại, tham gia các FTA THM là cũng cơ hội lớn để Việt Nam gia tăng đón nhận những làn sóng đầu tư FDI, từ đó có thể tận dụng nguồn vốn, tiếp thu kinh nghiệm quản lý, cũng như công nghệ sản xuất, dịch vụ hiện đại từ những nhà đầu tư nước ngoài… Thương mại, đầu tư phát triển là cơ sở để cải thiện tăng trưởng kinh tế của Việt Nam…
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, song hành với những cơ hội lớn từ việc tham gia các FTA THM, thì thách thức mà các HĐ này mang lại cũng không nhỏ.
Đơn cử, theo Ths. Đặng Thị Thanh Bình, hai hiệp định CPTPP và EVFTA đặt ra yêu cầu khắt khe về quy tắc xuất xứ đối với các sản phẩm XK, phải có xuất xứ nội khối mới được hưởng ưu đãi thuế. Trong khi đó một số ngành XK chủ lực của Việt Nam lại không chủ động được về nguyên vật liệu. “Theo điều tra 8.600 doanh nghiệp (DN) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong năm 2019, có tới 73,13% DN đánh giá rằng quy tắc xuất xứ quá khó để có thể đáp ứng” - bà Bình thông tin.
Thách thức thứ hai là các DN phải đối mặt với nhiều rào cản phi thuế quan hơn. Khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, các nước thường có xu hướng sử dụng nhiều hơn những rào cản phi thuế quan như các biện pháp cấm, hạn ngạch về số lượng, giá trị được phép XK hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định; hàng rào kỹ thuật trong thương mại… Ngoài ra, các DN còn có khả năng phải đối mặt với các biện pháp phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm đem lại nguy cơ mất cân bằng thương mại…
Cần biến cơ hội thành lợi ích thực sự
Các chuyên gia tại hội thảo cho biết, EVFTA dự kiến sẽ có hiệu lực từ 1/7/2020 nên thời điểm hiện tại chưa có những con số định lượng để đánh giá bao nhiêu phần trăm cơ hội trên lý thuyết sẽ thực sự chuyển hóa thành những lợi ích cụ thể, tuy nhiên, với CPTPP, đến nay Việt Nam đã có những đánh giá kết quả bước đầu sau hơn 1 năm thực thi hiệp định này.
Cụ thể, Ths. Ninh Thị Hoàng Lan cho biết, kết thúc năm 2019, sau một năm thực thi CPTPP có thể thấy, kim ngạch XK của Việt Nam sang thị trường của 6 nước thành viên đã thực thi CPTPP nhìn chung có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với các năm trước. Việt Nam đã tận dụng cơ hội từ CPTPP để thâm nhập vào những thị trường mới như Canada và Mexico, là những nước lần đầu tiên có FTA với Việt Nam (XK sang Canada tăng 29,81% và sang Mexico tăng 26,26%). Tuy nhiên, tăng trưởng XK chưa đồng đều, có thị trường tăng rất không đáng kể, như Singapore (chỉ tăng 0,06%). Thậm chí, XK sang một số thị trường còn giảm, như Australia (giảm gần 12% so với năm trước), Malaysia (giảm gần 7%).
Ngoài ra, nếu xét theo ngành, dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ… là những ngành hàng luôn được đánh giá có khả năng tận dụng cơ hội đẩy mạnh XK, nhờ hưởng ưu đãi thuế quan khi CPTPP đi vào thực thi, nhưng trên thực tế lại không hẳn như vậy. Hàng dệt may vẫn chiếm giá trị cao nhất trong tổng kim ngạch XK của Việt Nam vào các nước CPTPP, nhưng sau 1 năm thực thi hiệp định, giá trị XK mặt hàng này chỉ tăng 7,72%; hàng thủy sản chỉ tăng được 2,6%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 8,11%... Những con số trên cho thấy, mặc dù giá trị XK của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên CPTPP có tăng, nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với các thị trường khác. Điều đó cũng cho thấy rõ ràng việc tham gia CPTPP sau 1 năm kết quả vẫn chưa đạt được như mong đợi.
Trước thực tế đó, các chuyên gia tại hội thảo cho rằng, để có thể thực sự chuyển hóa những cơ hội tiềm năng thành lợi ích thực sự đối với nền kinh tế và DN khi tham gia và thực thi các FTA THM, thời gian tới cần chú trọng một số giải pháp.
Trước hết, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ để giảm nhập khẩu đầu vào trung gian, tăng hàm lượng nội địa và đáp ứng các yêu cầu về quy tắc XX của các FTA THM, để có thể hưởng ưu đãi thuế quan từ các FTA này. Thêm vào đó, cần có chính sách hỗ trợ các DN chuyển dần từ sản xuất gia công sang các giai đoạn khác có giá trị gia tăng cao hơn.
Bên cạnh đó, công tác ban hành văn bản và tổ chức thực thi các cam kết trong các FTA cũng cần phải có những thay đổi, để bảo đảm các yêu cầu về thời hạn theo đúng cam kết trong các FTA…
Về phía cộng đồng DN, theo các chuyên gia, kinh doanh là chuyện không ai có thể làm thay DN. Vì vậy, việc DN có chủ động tìm hiểu các cơ hội ưu đãi không, có chủ động thay đổi cách thức sản xuất đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi không… sẽ quyết định phần lớn việc DN có được hưởng lợi từ các FTA và hưởng lợi bao nhiêu. Quan trọng hơn nữa, ngoài việc DN cần chủ động tìm hiểu, tận dụng các FTA, nền tảng cơ bản nhất vẫn là DN phải cải thiện năng lực cạnh tranh. Không có nền tảng này, dù các FTA có bày ra nhiều cơ hội đến đâu cũng không thể trở thành hiện thực.
Nguồn: Thời báo Tài chính Việt Nam
Từ khóa: FTA thế hệ mới, cú hích, sức bật, thương mại, đầu tư
Các tin khác
- Doanh nghiệp châu Âu kỳ vọng lớn khi EVFTA được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn - 09/06/2020
- Việt Nam mong muốn EU sớm thúc đẩy thực thi EVFTA trước ngày 1/8 - 09/06/2020
- Đổi mới cách tiếp cận, hỗ trợ doanh nghiệp - 08/06/2020
- Thời cơ vàng xuất khẩu nông sản - 08/06/2020
- EVFTA - Sức mạnh mới thời phục hồi kinh tế - 08/06/2020



