JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTin trong nước“Lối ra nào cho nông sản Việt Nam”

“Lối ra nào cho nông sản Việt Nam”

 

Trải qua 25 năm đổi mới nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả, xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng của Việt Nam đã đạt được tốc độ trưởng mạnh với 9 ngành hàng chủ yếu gồm gạo, cà phê, chè, cao su, thủy sản, rau quả, hồ tiêu, điều, gỗ. Nếu năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt 8,139 tỷ USD thì năm 2012, con số này đã tăng lên gấp 3 lần và đạt 24,329 tỷ USD và năm 2013 đạt 132,2 tỷ USD, trong đó nông lâm thủy sản đạt 16,5 tỷ USD. Thành tựu đạt được là vậy nhưng so với tiềm năng và kỳ vọng thì những con số nêu trên chưa tương xứng.

raucu

Trong buổi hội thảo “Thực trạng và giải pháp nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm chế biến tinh lương thực thực phẩm và sản phẩm nông sản xuất khẩu” được tổ chức tại TP.HCM, ông Nguyễn Duy Đức - Phó Viện trưởng Viện Cơ điện và Công nghệ sau thu hoạch cho rằng thực trạng của ngành nông nghiệp hiện nay về sản xuất thì manh mún nhỏ lẻ, chủ yếu xuất khẩu sản phẩm dạng thô, về cơ chế chính sách thì bất cập. Ông Đức cho rằng cẩn phải giải quyết được ba việc trên mà bắt đầu phải là cơ chế chính sách thì ngành nông nghiệp mới có thể phát triển, mang lại lợi nhuận 30% cho người nông dân trồng lúa như Nghị định 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia đã hướng tới.

Từ thực trạng ông Đức đã nêu lên một số giải pháp bao gồm:

1) Giảm giá thành sản xuất và nâng cao chất lượng nguyên liệu:

- Rà soát, xây dựng quy hoạch các vùng sản xuất nguyên liệu gắn với chế biến và thị trường.

- Thực hành sản xuất nông nghiệp có chứng chỉ, đưa tỷ lệ các vùng sản xuất nông sản hàng hóa được cấp chứng nhận VietGAP, GlobalGAP và các chứng chỉ khác (4C, RainForest...) đạt tối thiểu 30% vào năm 2015 và 60% vào năm 2020.

- Tổ chức các hình thức kinh tế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp, hình thành liên kết dọc giữa doanh nghiệp với nông dân.

2) Giảm tổn thất sau thu hoạch:

- Tập trung vào các khâu có mức tổn thất lớn, tăng nhanh tỷ lệ cơ giới hóa, kết hợp với việc ứng dụng các kỹ thuật bảo quản tiên tiến; Cải thiện chất lượng thành phẩm.

- Tổ chức lại sản xuất theo hướng cánh đồng lớn, liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp với nông dân. Thông qua đó, cải thiện chất lượng giống, giảm bớt các đầu mối trung gian.

3) Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chế biến, giảm dần các sản phẩm chế biến thô, tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao

4) Tận dụng có hiệu quả các phế phụ phẩm

- Áp dụng khoa học công nghệ và thiết bị kỹ thuật tận dụng triệt để các phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp (như rơm, trấu, cám; mật rỉ; bã mía; nội tạng, mỡ cá...) để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng và góp phần bảo vệ môi trường.

- Cùng với việc giảm tổn thất, việc tận dụng hiệu quả phế phụ phẩm sẽ góp phần đáng kể vào việc hạ giá thành sản phẩm chế biến, nâng cao giá trị gia tăng nông lâm thủy sản.

5) Tổ chức hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm:

- Xây dựng quy trình sản xuất chuẩn đối với từng loại sản phẩm, tổ chức thực hiện tốt quy trình để đảm bảo chất lượng, giảm tỷ lệ tiêu hao vật tư, nguyên liệu và quản lý tốt an toàn thực phẩm đối với sản phẩm.

- Trên cơ sở liên kết sản xuất, giảm thiểu đầu mối trung gian, tổ chức tốt việc kiểm tra, giám sát chuỗi sản xuất sản phẩm theo từng khâu.

- Áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, SSOP, ISO... trong chế biến

6) Phát triển thị trường tiêu thụ bền vững:

- Nghiên cứu, phân tích nhu cầu của các thị trường truyền thống cũng như các thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao như Nhật, Mỹ, EU để đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị hàng xuất khẩu.

- Phát triển thị trường tiềm năng, thị trường “ngách”nhằm tạo điều kiện tiêu thụ các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, trong đó đặc biết lưu ý thị trường Trung Quốc vốn có sức thu hút lớn.

- Xây dựng và phát triển thương hiệu, kênh phân phối các sản phẩm nông, lâm, thủy sản Việt Nam.

7)Về quy hoạch: Rà soát, hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu theo hướng tập trung phát triển những ngành hàng có sức cạnh tranh cao, theo hướng phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

8). Liên kết tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị hàng hóa: Xây dựng liên kết tổ chức sản xuất hàng hóa lớn, phát triển bền vững trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường.

9) . Áp dụng khoa học – công nghệ

- Đặt hàng với các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ thích hợp nhằm nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản.

10) Đổi mới công tác thương mại:

- Xây dựng hệ thống logistic để phục vụ tiêu thụ sản phẩm.

- Tăng cường h/động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại ban hành các chính sách về thương mại,

- Thông tin kịp thời về thị trường thương mại, tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại

- Chủ động tiếp cận, đàm phán với các đối tác, quốcgia để giải quyết những tranh chấp thương mại hoặc tháo gỡ các rào cản đối với thương mại

11) Cơ chế, chính sách:

-Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của từng ngành hàng.

-Các chính sách hỗ trợ khác tạo động lực cho sản xuất nông nghiệp.

Ngọc Thành - TTWTO

Từ khóa: Việt Nam, nông sản, lối ra, Mỹ, Nhật, EU, an toàn thực phẩm

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008737596
Go to top