Thủy điện Sơn La những ngày tháng 5 ngập tràn nắng gió. Đứng trên con đập ngăn nước nối hai bờ Đà giang, chỉ xuống dòng nước chảy cuồn cuộn qua tuabin của 6 tổ máy, ông Hoàng Trọng Nam - Giám đốc Công ty Thuỷ điện Sơn La, hồ hởi nói với chúng tôi: “Dòng nước kia ngày đêm tuôn trào, tạo ra dòng điện cung cấp cho hệ thống lưới điện quốc gia của Tổ quốc”. Về đích trước 3 năm, với sản lượng điện trung bình mỗi năm của Nhà máy là 10,2 tỷ kWh , Công trình Thủy điện Sơn La đã giúp làm lợi cho đất nước khoản tiền 1,5 tỷ USD . Đó là chưa kể đến những giá trị, lợi ích không đo đếm được bằng tiền… “Đóng góp vào thành công này, phải kể đến sự giúp sức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) với vai trò người bảo lãnh vay vốn khoản tín dụng 400 triệu USD đấu thầu mua sắm thiết bị cho dự án và thực hiện công tác giải ngân nguồn vốn kịp thời đảm bảo tiến độ cho dự án”, ông Nam chia sẻ.
Thủy điện Sơn La là một trong những chương trình kinh tế - xã hội và dự án trọng điểm trên khắp mọi miền đất nước mà VDB tham gia góp sức đầu tư. Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 369/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Với Quyết định này, lĩnh vực tín dụng nhà nước có bước phát triển mới với tầm nhìn dài hạn.
Công cụ quan trọng hỗ trợ phát triển
Sau 7 năm hoạt động theo mô hình mới trên nền tảng của Quỹ hỗ trợ Phát triển, VDB đã hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ là huy động, tiếp nhận và quản lý một số nguồn vốn trong và ngoài nước để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư (TDĐT) và tín dụng xuất khẩu (TDXK) của Nhà nước, qua đó góp phần tạo lập sự thay đổi căn bản về phương thức hỗ trợ phát triển của Nhà nước, chuyển từ tài trợ cấp phát của Nhà nước sang cho vay có thu hồi vốn, giảm sự bao cấp của Nhà nước. Nhà nước đã có thêm công cụ quan trọng để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đáng chú ý, nguồn vốn tín dụng nhà nước không vì mục tiêu lợi nhuận, lãi suất cho vay thường thấp hơn mặt bằng thị trường, thời gian cho vay dài hỗ trợ các dự án đi đến thành công.
Tổng số vốn TDĐT bằng nguồn vốn trong nước do VDB quản lý trong 7 năm qua đạt dư nợ trên 110.000 tỷ đồng. Trong đó nổi bật là các dự án công trình Thủy điện Sơn La, nhà máy Lọc dầu Dung Quất, các nhà máy xi măng, luyện thép, cơ khí trọng điểm, vệ tinh Vinasat, phân bón DAP Hải Phòng, Apatit Lào Cai, đóng tàu biển, đường ô-tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (mức đầu tư cho các dự án đó thường từ hàng nghìn đến hàng chục nghìn tỷ đồng)...
Nguồn vốn tín dụng xuất khẩu theo nguyên tắc không vi phạm các quy định của WTO của VDB đóng vai trò là nguồn “vốn mồi” thu hút các nguồn vốn của NHTM, vốn tư nhân và nguồn vốn khác trong xã hội tham gia đầu tư. Đây cũng là một hướng đi phù hợp với điều kiện của Việt Nam nhằm đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư phát triển.
Thông qua các hình thức hỗ trợ gián tiếp: bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất..., VDB đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã, các chủ đầu tư tiếp cận được các nguồn vốn của ngân hàng thương mại, góp phần đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất kinh doanh.
Thực hiện chức năng quản lý các nguồn vốn ODA cho vay lại, các quỹ quay vòng, VDB đang quản lý cho vay lại 390 dự án ODA cho vay lại với số vốn vay theo cam kết hơn 11 tỷ USD, dư nợ gần 115.000 tỷ đồng. VDB đã có quan hệ hợp tác với trên 100 tổ chức tài chính quốc tế, được các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước tín nhiệm tài trợ/uỷ thác quản lý 09 chương trình/dự án lớn với tổng số vốn trị giá hàng tỷ USD.
VDB đã thực sự tạo lập được kênh huy động vốn, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước cho TDĐT và TDXK của Nhà nước, khẳng định vai trò “vốn mồi”, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Thời gian qua, không kể số thu hồi nợ vay, VDB đã huy động tổng số vốn hơn 250 nghìn tỷ đồng từ nhiều nguồn, trong đó có trái phiếu do VDB phát hành được Chính phủ bảo lãnh...
Kỳ vọng, thách thức mới
Với Quyết định 369, lần đầu tiên, Chính phủ chính thức khẳng định VDB là một ngân hàng chính sách và phải tiếp tục được củng cố và phát triển để thực hiện tốt hơn các mục tiêu chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Những kỳ vọng ấy được thể hiện ở một số mục tiêu cụ thể, theo đó phải đảm bảo tăng trưởng tài sản khoảng 10%/năm, tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh, nâng cao chất lượng quản trị nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng, hoàn thiện tổ chức bộ máy và các quy định nghiệp vụ…
Để đạt được những kỳ vọng này, Phó Tổng Giám đốc VDB Đào Dung Anh cho biết, Ngân hàng đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2013 - 2020 bình quân 10%/năm, theo đó quy mô tài sản của VDB đến năm 2020 đạt khoảng 500.000 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu vốn chủ sở hữu và vốn huy động của ngân hàng phù hợp tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm. Xây dựng lộ trình tăng vốn chủ sở hữu nhằm đạt tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng dư nợ cho vay TDĐT, TDXK phù hợp từng giai đoạn (dự kiến đạt tỷ lệ 10% vào năm 2015, khoảng 20.000 tỷ đồng và đến năm 2020 đạt khoảng 30.000 tỷ đồng.
Về hiệu quả hoạt động nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng, VDB nâng cao chất lượng tín dụng, đặc biệt là các công tác thẩm định, giải ngân, quản lý thu hồi nợ. Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, đặc biệt triển khai hiệu quả nghiệp cụ cho vay thỏa thuận nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và giảm cấp bù của Nhà nước tiến tới tự chủ về tài chính. Tích cực thu hồi và xử lý nợ xấu nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu tổng thể dưới 7% vào năm 2015, từ 4 - 5% vào năm 2020 và dưới 3% vào giai đoạn 2020 - 2030.
Nhận định về những mục tiêu này, ông Trần Công Hòa, Trưởng Ban Chính sách Phát triển - VDB cho biết, tỷ lệ nợ xấu của VDB hiện nay là 7%, với mục tiêu xử lý nợ xấu được đặt ra thì có nghĩa là tới năm 2015, nợ xấu phải giảm ít nhất khoảng 4.000 tỷ đồng, tương đương với hơn 1.300 tỷ đồng/năm. VDB sẽ phải đảm bảo giảm nợ xấu hiện tại; hạn chế tối đa không phát sinh nợ xấu với các khoản tín dụng mới trong giai đoạn 2013-2015 và giữ nguyên cho tới năm 2020. Trong khi đó, quỹ dự phòng rủi ro của VDB hiện tại không lớn, vấn đề xử lý nợ xấu còn nhiều vướng mắc trong thực hiện phá sản doanh nghiệp, phát mại tài sản, định giá và mua bán nợ; trình tự thủ tục còn nhiều phức tạp, thậm chí chưa đồng bộ, nhiều doanh nghiệp còn nặng về tư tưởng níu kéo, không thật sự hợp tác trong việc giải quyết nợ xấu, khả năng hỗ trợ của ngân sách không nhiều do nền kinh tế còn nhiều khó khăn.
Cũng phải kể thêm, vấn đề đổi mới toàn diện tổ chức bộ máy quản lý, hệ thống các quy định nghiệp vụ và nâng cao năng lực quản trị rủi ro, bao gồm cả vấn đề hiện đại hóa để hoạt động như một ngân hàng thực thụ là một thách thức không nhỏ. “VDB hiện nay vẫn chưa đạt tới được sự chuyên nghiệp hiện đại cần thiết, lại phải thực hiện đổi mới toàn diện một hệ thống lớn có tổng tài sản khoảng 14 tỷ USD trong khi tiềm lực của VDB chưa thực sự mạnh, nhiệm vụ đặt ra lại lớn hơn rất nhiều”, ông Trần Công Hòa thẳng thắn chia sẻ.
Dù vậy, xác định quyết liệt thực hiện mục tiêu đặt ra, Phó Tổng giám đốc Đào Dung Anh khẳng định: “Năm 2013 khởi đầu cho quá trình tái cơ cấu của VDB, trong đó việc thu nợ, xử lý nợ xấu được xác định là nhiệm vụ trọng tâm!”.
Theo TTXVN
Các tin khác
- Thuỷ sản nhập lậu: Các cơ quan chức năng cần vào cuộc quyết liệt - 16/05/2013
- Trưởng đại diện IMF: Việt Nam có thể tránh được những cú sốc bên trong và bên ngoài - 16/05/2013
- Thị trường bán lẻ ở Việt Nam : Cơ hội nhiều và thách thức cũng lớn - 15/05/2013
- Cơ hội giới thiệu những công nghệ hiện đại trong khai thác, chế biến titan - 15/05/2013
- Tp. Hồ Chí Minh phấn đấu GDP cao hơn 1,5 lần mức tăng trưởng bình quân của cả nước - 15/05/2013






















