JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTin trong nướcXây dựng cơ chế phát triển bền vững chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp

Xây dựng cơ chế phát triển bền vững chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp

Để thực hiện các tiêu chí phát triển kinh tế bền vững trong chương trình xây dựng nông thôn mới cần sự chung tay, góp sức từ nhiều nguồn sức mạnh trong xã hội, mà cụ thể là Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông. Qua việc triển khai nhiều mô hình liên kết để thúc đẩy sản xuất, cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản đã cho thấy hiệu quả, tầm quan trọng của từng mắt xích trong mối liên kết này. Việc nâng tầm liên kết để tạo nên chuỗi giá trị trong sản nghiệp nông nghiệp hàng hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững là nội dung chính trong cuộc trao đổi của phóng viên "Kinh tế Việt Nam và Thế giới" (TTXVN) với ông Tăng Minh Lộc, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), kiêm Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

 

PV: Thưa ông, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hướng tới hoàn thiện chuỗi giá trị hàng hóa nông sản được coi là giải pháp quan trọng để tháo gỡ khó khăn hiện tại của ngành nông nghiệp. Vậy cụ thể vai trò và chức năng của từng mắt xích trong chuỗi liên kết này là gì?

Ông Tăng Minh Lộc: Có thể nói, liên kết giữa nông dân - nhà khoa học và doanh nghiệp không chỉ là giải pháp, mà còn là một yêu cầu tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, vì thế phải đẩy mạnh liên kết đó. Nước ta đã có nhiều địa phương làm tốt nhiều mô hình liên kết như sản xuất mía đường ở Lam Sơn - Thanh Hóa, sản xuất rau và hoa ở Đà Lạt, mô hình cánh đồng mẫu lớn và sản xuất lúa gạo ở An Giang, mô hình cây trái của Vĩnh Long, Tiền Giang, mô hình nuôi cá tra ở Đồng Tháp... Qua các mô hình đó đã khẳng định có 3 mắt xích hay 3 nhân tố quan trọng nhất tham gia tích cực trong quá trình liên kết, đó là nông dân, nhà khoa học và doanh nghiệp.

Đối với nông dân, vai trò chính là người sản xuất nguyên liệu. Với nhà khoa học, vai trò chính là đem lại ứng dụng khoa học, tiến bộ kỹ thuật tốt cho doanh nghiệp và người nông dân. Còn doanh nghiệp thì đóng vai trò là người đặt hàng, người giải quyết khâu tiêu thụ và là “đầu tàu” trong quan hệ này. Trong quan hệ đó, qua nghiên cứu các mô hình, chúng tôi thấy rằng Nhà nước không phải là một đối tác liên kết mà Nhà nước đóng vai trò là người tạo ra môi trường pháp lý và chính sách; là trọng tài để thúc đẩy quá trình liên kết phát triển và tạo ra sự liên kết bền vững giữa các mắt xích trong đó. Hiện chúng ta chỉ còn cái mắc là rất nhiều chính sách có những mặt còn bất cập, nên vẫn chưa giải quyết đồng bộ và hiệu quả thu được chưa cao. Vì vậy việc nhân rộng các mô hình này vẫn còn hạn chế.

 

PV: Ông nhận định như thế nào về tính gắn kết giữa các mắt xích trong chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp hiện nay?

Ông Tăng Minh Lộc: Từ năm 2002, Chính phủ đã có Quyết định 80 về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, thực chất đó là liên kết giữa các đối tác từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản mà chúng ta thường quen gọi nó là “liên kết 4 nhà”. Trong hơn 10 năm thực hiện vừa qua, chúng ta đã thấy rõ mặt tích cực của quyết định này là đã tạo ra rất nhiều vùng nguyên liệu lớn như cao su, cà phê, mía đường hay lúa gạo... và nông dân cũng đã tiếp thu được nhiều tiến bộ kỹ thuật. Đặc biệt, họ đã quen dần với cách làm kinh tế với doanh nghiệp, với HTX là phải có ký hợp đồng. Tuy nhiên, trong thời gian qua vẫn phổ biến tình trạng nông dân sẵn sàng phá bỏ hợp đồng với doanh nghiệp bất chấp việc đã ký kết, khi bên ngoài thị trường giá cả cao hơn. Do vậy, doanh nghiệp thường rơi vào khó khăn. Mặt khác, khi thu được lợi nhuận cao ở khâu tiêu thụ thì doanh nghiệp cũng không có sự phân phối, chia sẻ lại cho nông dân. Bên cạnh đó, thì nhà khoa học thường chỉ hoạt động theo các dự án có ngân sách nhà nước hỗ trợ, rất ít nhà khoa học tự ký kết với các doanh nghiệp hay người nông dân để hưởng thụ bằng kết quả khoa học của mình. Dường như sự gắn kết giữa “3 nhà” không có sự chia sẻ lẫn nhau, không có cơ chế kinh tế để liên kết họ. Do vậy, liên kết này đã không bền vững. Thậm chí, dường như doanh nghiệp đã quay lại với nông dân, nông dân cũng sẵn sàng quay lưng với doanh nghiệp, còn nhà khoa học thì bàng quang.

PV: Để hóa giải những bất cập nêu trên, theo ông, chúng ta cần có giải pháp gì?

Ông Tăng Minh Lộc: Chúng tôi cũng đã nghiên cứu, phân tích và thấy rằng, cái chính là trong Quyết định 80 chưa phân định rõ vai trò của từng đối tác tham gia trong liên kết này và chúng ta cũng chưa xây dựng được một cơ chế lợi ích gắn kết giữa họ. Ngoài ra, các chính sách hiện hành của Nhà nước cũng chưa làm cho những đối tác này tự lớn lên để tương thích với nhau. Do đó mối liên kết giữa họ dường như vẫn còn rời rạc. Thêm vào đó là chế tài xử phạt của chúng ta đối với những trường hợp vi phạm hợp đồng vẫn còn lỏng lẻo.

Vì vậy, để giải quyết những vướng mắc trong mối liên kết này, chúng tôi cũng xác định có mấy nguyên tắc. Nguyên tắc thứ nhất là xác định rõ vai trò của từng đối tác, xây dựng được cơ chế kinh tế để gắn kết họ từ khâu đầu đến khâu cuối của sản xuất mà người ta quen gọi là sản xuất theo chuỗi giá trị. Nguyên tắc thứ hai là phải có chính sách hỗ trợ cho từng loại đối tác này, tùy theo từng chức năng để làm cho họ cùng lớn lên. Chúng tôi thì đang đề nghị một hệ thống cơ chế chính sách mới để thúc đẩy liên kết thay cho Quyết định 80 đã không còn phù hợp nữa. Nội dung chủ yếu trong chính sách này, đồng thời cũng là những điểm mới so với trước là thể hiện ở một số mặt sau: thứ nhất, chúng ta cần xác định rõ các đối tác tham gia trong liên kết đó là nông dân, nhà khoa học và doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp phải là “đầu tàu”. Thứ hai, Nhà nước sẽ không phải là một đối tác liên kết mà là người tạo môi trường cả về chính sách lẫn pháp lý, đồng thời là trọng tài để thúc đẩy, phát triển liên kết và đảm bảo cho liên kết phát triển một cách bền vững. Thứ ba là chúng ta nên áp dụng chính sách bảo hiểm nông nghiệp để người nông dân yên tâm hơn trong sản xuất hàng hóa. Thứ tư, chúng tôi cũng đề xuất Chính phủ cần sửa đổi một số văn bản luật có liên quan đến vấn đề này. Thứ năm là về quá trình tổ chức thực hiện thì chúng ta không thể làm tràn lan được bởi vì vốn mình ít, lực lượng lại yếu thì nên ưu tiên làm trước những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, vùng có tính chất hàng hóa cao. Ở những vùng đó mới có nhu cầu hợp tác, nhu cầu liên kết. Và nếu chúng ta làm tốt, hiệu quả cao thì mới là hình ảnh thúc đẩy việc nhân rộng ra các vùng khác.

 

PV: Xin cảm ơn ông!
Thanh Hương (thực hiện)/ Dẫn theo TTXVN
 

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008738852
Go to top