Những năm gần đây nhiều tỉnh trong cả nước đã có những chính sách để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT), là ngành sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng như ô tô, xe máy…), đóng góp không nhỏ vào nguồn ngân sách của tỉnh. Tuy nhiên, đến nay ngành CNHT Việt Nam nói chung vẫn còn rất non yếu, gặp nhiều khó khăn do đó, muốn ngành công nghiệp này phát triển, đòi hỏi nhiều sự nỗ lực của nhà nước, các địa phương có thế mạnh về công nghiệp đến chính các doanh nghiệp CNHT nội địa.
Chất lượng sản phẩm nội địa thấp
Với chính sách phát triển công nghiệp, các tỉnh đã thu hút khá nhiều tập đoàn lớn về đầu tư xây dựng các công ty sản xuất thành phẩm như Intel, Nidec, Toyota , SYM…. Những tưởng rằng sự phát triển của các công ty sản xuất này sẽ kéo theo sự phát triển của ngành CNHT trong nước vì khi sản xuất ra càng nhiều thành phẩm, các công ty này cần nguồn cung ứng các linh kiện phụ tùng lớn tại chính tỉnh mà công ty đóng hay các tỉnh lân cận để hạn chế giá thành, chi phí nhập khẩu. Thế nhưng, hầu hết những đơn vị này lại chấp nhận nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất hơn là mua từ các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Theo ông Châu Minh Nguyện, Phó giám đốc Sở Công Thương Đồng Nai, nhìn chung, ngành CNHT của tỉnh đã có bước phát triển khá với hơn 500 doanh nghiệp sản xuất cung cấp linh kiện phụ tùng kim loại, linh kiện điện tử, nhựa, cao su và hóa chất…cho các ngành công nghiệp cơ khí, điện tử và dệt may, giày dép. Nhưng nếu đặt trong bức tranh tổng quan về tình hình mua nguyên vật liệu của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp thành phẩm thì tỷ lệ cung cấp của các các doanh nghiệp tại tỉnh cho các doanh nghiệp sản xuất thành phẩm tại hiện nay chỉ chiểm khoảng 10%.
Tp.Hồ Chí Minh đã xác định rõ hướng phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành công nghiệp điện tử là tập trung vào sản xuất các linh kiện điện tử như thiết kế vi mạch với các trung tâm, doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, thiết kế vi mạch trong mối liên kết với Khu công nghệ cao, khu công nghiệp. Nhưng phần lớn các đơn vị này chỉ thực hiện gia công các linh kiện điện tử chứ chưa sản xuất được nhiều các sản phẩm linh kiện điện tử hay thiết kế, giải mã… Hơn nữa, sản phẩm tạo ra lại chưa đáp ứng được yêu cầu các các tập đoàn điện tử nước ngoài, do đó họ phải nhập khẩu các linh kiện từ các nước khác.
Ông Takanori Yamashtita, Tổng giám đốc Công ty Máy tính Fuitsu Việt Nam chia sẻ: thời gian đầu khi mới thành lập, do không có thị trường nguyên vật liệu tại Việt Nam , nên chúng tôi đã phải mua nguyên vật liệu từ bên ngoài. Đến nay, tình hình vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc nào. Tuy rằng, chúng tôi đã tìm kiếm các nhà cung cấp trong nước có thể đáp ứng những tiêu chuẩn của chúng tôi, nhưng vẫn không tìm ra các nhà cung cấp phù hợp. Điều này cũng có nghĩa là ngành CNHT trong lĩnh vực điện tử nói riêng, ngành CNHT nói chung vẫn chưa phát triển tại Việt Nam .
Phát triển hệ thống doanh nghiệp sản xuất CNHT
Số lượng doanh nghiệp sản xuất CNHT tại Việt Nam hiện quá ít ỏi. Chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cần được xem là định hướng quan trọng. Trong đó, việc khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tham gia CNHT lại là nhân tố chính để Việt Nam có được nền CNHT phát triển bền vững. Ngoài ra, việc thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất linh kiện và phụ tùng cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Tiến sĩ Trương Thị Chí Bình, Giám đốc Trung tâm phát triển CNHT, Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công Nghiệp, Bộ Công Thương nhận định: chúng ta không thể nào phát triển nếu không có doanh nghiệp FDI vì như vậy các đơn vị CNHT Việt Nam mới có cơ hội để học hỏi nâng cao về kỹ thuật, quản lý. Nhật Bản đã có những “cứ điểm” phát triển linh kiện điện tử ở nhiều nước nhưng, nước ta không đủ năng lực để “thuyết phục” Nhật Bản chuyển những công ty sản xuất CNHT về. Trong khi đó, nhiều nước công nghiệp mới nổi như Hàn Quốc, Indonexia…. đang có xu hướng mở rộng đầu tư ra bên ngoài. Do vậy, Việt Nam nên ưu tiên kêu gọi các tập đoàn công nghiệp có công nghiệp hỗ trợ kèm theo từ các nước trên. Bước đầu, chúng ta sẽ có được một nền CNHT hiện đại. Tuy nhiên, đây chỉ là bước đi đầu làm nền tảng xây dựng nền CNHT nội địa vững mạnh từ chính danh nghiệp CNHT trong nước. Song song việc khuyến khích các doanh nghiệp FDI đầu tư, các tỉnh cần phải có nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp nội địa.
Theo ông Phạm Anh Tuấn, Phó Vụ Trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương), các tỉnh phát triển công nghiệp chế tạo mạnh như Đồng Nai, công nghệ điện tử như Tp.Hồ Chí Minh…nên hình thành các khu công nghiệp chuyên sâu cho CNHT. Dùng ngân sách của tỉnh nhằm tạo ra các ưu đãi cho doanh nghiệp nội địa hoạt động. Cũng như đưa ra nhiều lợi ích để thu hút các công ty FDI. Điều này, một số tỉnh phía Bắc làm rất tốt. Chẳng hạn, tỉnh Bắc Ninh đã thu hút được tập đoàn SamSung, Nokia vào đầu tư cả về sản xuất chế tạo thành phẩm cũng như sản xuất các sản phẩm hỗ trợ ngay tại tỉnh; Hà Nội thì hỗ trợ lãi suất nếu các doanh nghiệp nội địa muốn tham gia sản xuất các nguyên liệu, linh kiện hỗ trợ…
Tạo thị trường cho công nghiệp hỗ trợ
Từ năm 2011 đến nay, sau rất nhiều nỗ lực của Bộ Công Thương, quyết định 12/QĐ-TTg về phát triển CNHT và QĐ 1483 về “Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển” đã được Nhà nước được ban hành, đáp ứng phần nào mong đợi của doanh nghiệp, rất nhiều cơ quan trung ương và các tỉnh quan tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, CNHT có phát triển hay không, không phụ thuộc vào các chính sách của nhà nước. Mà quan trọng hơn cả, phải tạo ra cho được thị trường trong và ngoài nước cho các ngành CNHT. Muốn làm được điều này, cần sự nỗ lực từ các tỉnh, các doanh nghiệp CNHT chứ không riêng gì nhà nước.
Ông Phạm Anh Tuấn nhận định: những chính sách mới được ban hành trong thời gian vừa qua bước đầu tạo ra một hành lang pháp lý để phát triển CNHT. Những bước tiếp theo cần phải làm đó là tìm cách phát triển thị trường ngành CNHT. Bởi hiện tại thị trường trong nước còn quá nhỏ cả về sức mua và quy mô. Do đó, giai đoạn đầu cần tạo ra được chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp chế tạo với các doanh nghiệp kinh doanh CNHT nội địa; đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cung ứng của thị trường trong nước, hạn chế tối đa việc nhập khẩu các sản phẩm CNHT mà trong nước có thể sản xuất tốt. Giai đoạn tiếp theo là xuất khẩu các sản phẩm CNHT ra bên ngoài.
Theo tiến sĩ Dương Đình Giám, Viện Trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp: CNHT chỉ phát triển khi có một thị trường đủ lớn. Nhưng không phải sản phẩm nào cũng có thị trường đủ lớn như thị trường sản phẩm xe máy (nhận thấy sức tiêu thụ xe máy của Việt Nam cũng như các nước trong khu vực, các công ty FDI nước ngoài chủ động vào Việt Nam đầu tư sản xuất các sản phẩm linh kiện cho xe máy mà không cần nhà nước mời gọi). Khi các ngành CNHT chưa có thị trường đủ lớn cần phải có một “động tác” nào đấy từ nhà nước. Trong từng giai đoạn xác định được thị trường ngành công nghiệp hỗ trợ nào đủ lớn để các doanh nghiệp nội địa tập trung mọi nguồn lực đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, Việt Nam cần nhiều biện pháp khuyến khích người dân tiêu dùng những sản phẩm có sử dụng các sản phẩm của ngành CNHT được sản xuất trong nước.
Lan Phương/TTXVN
Các tin khác
- Kinh tế 5 tháng phục hồi nhưng chưa rõ nét - 12/06/2012
- Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam 2012, tiếng nói của khu vực tư nhân - 12/06/2012
- Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII: Không nên giao cho doanh nghiệp quyền chủ động định giá - 12/06/2012
- Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 11 tỷ USD - 12/06/2012
- Sản lượng khai thác thủy sản đã đạt trên 2 triệu tấn - 12/06/2012






















